đặt vấn đề: yêu cầu cơ bản đối với thuật ngữ thường được nhắc tới là không có đồng nghĩa trong phạm vi một hệ thống thuật ngữ nhất định, coi đồng nghĩa như là một hiện tượng không mong muốn, xa lạ với từ 14 vựng thuật ngữ, nhưng hiện nay, các nhà khoa học đã công nhận rằng thuật ngữ có thuộc tính của những hiện tượng ngôn ngữ học mà bất kỳ từ thường dùng nào có, vì vậy, có cả hiện tượng đồng nghĩa. Bài báo là công trình nghiên cứu của tác giả I.Tikhonova: Đồng nghĩa trong thuật ngữ chế biến dầu tiếng Anh đăng trên tạp chí của Trường Đại học Bashkir. Cộng hòa liên bang Nga, 2009. Việc nghiên cứu đồng nghĩa trong thuật ngữ chế biến dầu tiếng Anh đã phần nào làm sáng tỏ khái niệm đồng nghĩa trong từ vựng thuật ngữ, mô tả các phương pháp tiếp cận của các học giả đối với vấn đề đồng nghĩa thuật ngữ, tiến hành phân loại từ đồng nghĩa, nêu rõ các nguyên nhân xuất hiện từ đồng nghĩa trong thuật ngữ chế biến dầu tiếng Anh.
Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học của Tikhonova Irina Borisovna (2010, Ufa, Liên bang Nga): Mô hình hóa tri nhận hệ thống thuật ngữ nghề nghiệp (trên ngữ liệu thuật ngữ chế biến dầu tiếng Anh) [116]. Luận án đã tiến hành nghiên cứu và xem xét hệ thống thuật ngữ nghề nghiệp chế biến dầu như là kết quả của nhận thức khoa học. Việc áp dụng công cụ tri nhận cho phép xem xét thuật ngữ như là các ý niệm (concept) cùng một cấp độ, tạo thành bức tranh thế giới nghề nghiệp của lĩnh vực kiến thức nghiên cứu. Trong luận án sử dụng phương pháp xây dựng các sơ đồ khung (frame) để nêu rõ tổ chức cấu trúc và các liên hệ hệ thống giữa các đơn vị của hệ thuật ngữ.
Ngoài ra, luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học của Smagulova Aigerim Soviet khanovna (Cộng hòa Kazakhstan, Almaty, 2010): Đặc thù trường thuật ngữ trong lĩnh vực dầu và khí (trên ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Kazakh) [110]. Luận án đã triển khai bốn nội dung: i) xem xét lịch sử ra đời, hình thành và phát triển trường thuật ngữ “dầu và khí” trong tiếng Anh và tiếng Kazakh; ii) nêu ra vốn (corpus) thuật ngữ trong các ngôn ngữ đang xem xét trên cơ sở nghiên cứu các từ điển bách khoa toàn thư và các từ điển tường giải tiếng Anh và tiếng Kazakh nhằm mục đích nghiên cứu các bình diện lý thuyết và 15 phương pháp luận, các đặc điểm cấu trúc và chức năng của chúng; iii) tiến hành mô tả các đặc điểm cấu trúc, định danh – phái sinh và chức năng của thuật ngữ trong trường thuật ngữ “dầu và khí” tiếng Anh và Kazakh; iv) nghiên cứu các phương thức cấu tạo thuật ngữ lĩnh vực dầu khí trong hai ngôn ngữ đang xem xét. Giá trị lý thuyết của luận án là ghi nhận và tái hiện các định đề khoa học đang nghiên cứu, nêu ra các đặc điểm ngữ nghĩa – khái niệm, cấu trúc - chức năng là kết quả ảnh hưởng của các yếu tố phi ngôn ngữ và ngôn ngữ, khẳng định xu hướng hội nhập quốc tế của hệ thống thuật ngữ và hình thành do mở rộng vốn thuật ngữ chung trên ngữ liệu các phạm vi thuật ngữ đang xem xét, giải quyết vấn đề thuật ngữ hóa tiếng Anh và tiếng Kazakh trong phạm vi khai thác và chế biến dầu, chế biến khí thiên nhiên và đồng hành, thăm dò và khoan các mỏ dầu và khí. Bên cạnh một số công trình nghiên cứu về lí thuyết nói trên, còn có hàng loạt các cuốn từ điển chuyên ngành dầu khí tiếng Anh, song ngữ hoặc đa ngữ phục vụ cho nhu cầu tra cứu học tập, nghiên cứu hàng ngày.
Trước đây những từ điển này xuất hiện dưới dạng duy nhất là các xuất bản phẩm in ấn. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều cuốn từ điển này đã được số hóa và trở thành trực tuyến hoặc các phần mềm được cài đặt theo điện thoại hoặc máy tính, nâng cao tiện ích cho người dùng. Trước hết chúng tôi muốn đề cập đến những sản phẩm từ điển giải thích - những từ điển đơn ngữ Anh – Anh về các lĩnh vực dầu khí. Thống kê cho đến tháng 4 năm 2018 của chúng tôi thu được kết quả là hiện có 26 cuốn từ điển (bản in) đơn ngữ Anh –Anh về lĩnh vực dầu khí [Ngữ liệu khảo sát, tr.
Trong số 26 cuốn từ điển thuật ngữ dầu khí nói trên có 06 cuốn về kỹ thuật khoan, khai thác và thăm dò dầu khí, 02 cuốn về lịch sử, nguồn gốc của ngành công nghiệp dầu khí, 02 cuốn về công nghiệp chế biến dầu và khí, 01 16 cuốn về sản phẩm dầu và khí, 01 cuốn về khoa học và công nghệ dầu khí, 13 cuốn từ điển giải thích thuật ngữ dầu khí, 01 cuốn từ điển dùng trong hoạt động marketing dầu khí, 02 cuốn tổng hợp thuật ngữ dầu khí. Như vậy, có thể thấy rằng số lượng từ điển giải thích Anh – Anh về thuật ngữ dầu khí là rất đa dạng, phong phú. Có thể thấy rằng các nghiên cứu về TNDK trong tiếng Anh đã phủ khắp các lĩnh vực chủ yếu của phạm trù này. Thực tế đó phản ánh sự quan tâm sâu sắc của các nước nói tiếng Anh với lĩnh vực dầu khí.
Điều này cho thấy trình độ phát triển cao của các ngành khoa học về dầu khí cũng như sự phát triển cao của ngành ngôn ngữ học ở khối các nước có tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất. Thành tựu đó cũng có thể được giải thích bởi một số yếu tố mang tính lôgic khi tiếng Anh là ngôn ngữ của những quốc gia có nền khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cực kỳ phát triển, là ngôn ngữ của những nền kinh tế hàng đầu thế giới như Anh, Mỹ, Australia,. Ngoài ra nó cũng có thể được giải thích bằng một nguyên nhân nữa là mang yếu tố địa – chính trị: phải chăng bởi vì vùng hoạt động của tiếng Anh là quá lớn, dân cư không thuần nhất nảy sinh tình trạng ngôn ngữ này có nhiều biến thể dẫn đến có nhiều vấn đề cần được thống nhất, tránh sự hiểu lầm – chúng tôi cho rằng đó cũng là một lý do cần được nêu lên để giải thích cho vấn đề số lượng các công trình nghiên cứu về thuật ngữ dầu khí rất lớn trong tiếng Anh. Ngoài các từ điển là các sản phẩm dưới hình thức bản in đã đề cập, chúng tôi cũng thống kê được khá nhiều các sản phẩm từ điển on-line, các phần mềm từ điển, các chuyên trang về dầu khí có từ điển thuật ngữ dầu khí Anh – Anh.
Trong số đó có thể kể đến: alphaDictionary, Oil dictionary (Lexicool), Oilfield Dictionary, A dictionary for the Oil and Gas Industry. Bức tranh sinh động về các loại từ điển lĩnh vực này trong tiếng Anh cho thấy sự phát triển của khoa học dầu khí ở các nước nói tiếng Anh cũng như sự quan tâm của các quốc gia này đối với ngành công nghiệp dầu khí. 17 Bên cạnh các cuốn từ điển giải thích đơn ngữ Anh – Anh, còn có một lượng khổng lồ các loại từ điển song ngữ đủ các lĩnh vực của ngành dầu khí giữa tiếng Anh và một ngôn ngữ khác như từ điển dầu khí Anh - Nga, Anh - Pháp ,. Bởi tiếng Anh là phương tiện giao tiếp quốc tế và là ngôn ngữ của những quốc gia có nền khoa học công nghệ nói chung, khoa học công nghệ dầu khí nói riêng hết sức phát triển.
Tình hình nghiên cứu thuật ngữ dầu khí trong tiếng Việt Qua khảo sát của chúng tôi, trong tiếng Việt, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu về thuật ngữ dầu khí từ góc độ lý thuyết. Những thành tựu chủ yếu ở Việt Nam về lĩnh vực dầu khí mới chỉ là các sản phẩm từ điển. Dưới đây là 03 cuốn từ điển dầu khí của Việt Nam. Từ điển dầu khí Anh- Nga-Việt của Tổng hội địa chất Việt Nam.
Lao động Xã hội, 2004. Từ điển dầu khí Anh-Việt của Viện Dầu khí. Khoa học Kỹ thuật, 1996. Từ điển Dầu khí Anh –Việt.
Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2008. Cùng với một số phần mềm từ điển địa chất, GIS, Dầu khí, Trắc địa, môi trường: EST GeoDict hoặc từ điển trực tuyến chuyên ngành dầu khí như https://goo.gl/asOiqe Mặc dù đã có một số từ điển thuật ngữ chuyên ngành dầu khí như trên, nhưng những cuốn từ điển này chỉ đối chiếu các thuật ngữ tương ứng trong tiếng Anh, tiếng Nga với tiếng Việt; chưa có một cuốn từ điển thuật ngữ giải thích nào cho ngành dầu khí được biên soạn với bảng từ xuất phát từ tiếng Việt. So với số lượng các công trình nghiên cứu dầu khí và các lĩnh vực liên quan đến ngành dầu khí giữa Việt Nam và các nước nói tiếng Anh thì có sự chênh lệch rõ ràng. Tại sao lại có khoảng cách lớn như vậy ở ngay một đất nước mà tiềm năng về dầu khí là rất mạnh? Thật khó để đưa ra lý do chính xác nhưng nguyên nhân có thể là do sự quan tâm của chúng ta đến lĩnh vực 18 thuật ngữ còn nhiều bất cập.
Thực tế cho thấy sự tác động của các quy định mang tính pháp luật đối với sự phát triển của thuật ngữ nói chung, TNDK nói riêng là không đáng kể. Ví dụ điển hình cho tình trạng này là quy định về việc phiên chuyển một từ nước ngoài vào tiếng Việt thực hiện như thế nào cho đến giờ trong thực tế vẫn là vấn đề chưa được giải quyết dù chúng ta đã có một số quy định (Quyết định số 240/QĐ của Bộ Giáo dục ngày 5-3-1984 “Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt”). Những gì thuật ngữ dầu khí đã có được là sự phát triển có tính chất tự phát và chủ yếu do nhu cầu của những người làm trong ngành dầu khí. Với một đất nước đang phát triển có quá nhiều công việc cấp thiết cần làm, sự quan tâm đầu tư cho một ngành khoa học như thuật ngữ ở Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Từ đó có thể cho thấy tại sao số lượng công trình nghiên cứu về thuật ngữ dầu khí ở Việt Nam lại rất thiếu vắng khi so sánh với các nước nói tiếng Anh. Đặc biệt chưa có công trình nào mang tính chất lý thuyết, những nghiên cứu theo hướng xây dựng mô hình chuẩn hóa thuật ngữ dầu khí. Đây là khoảng trống rất lớn cần được khắc phục để hệ thuật ngữ chuyên ngành dầu khí phát triển, góp phần phục vụ tốt hơn cho ngành công nghiệp dầu khí.