Phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án được cấu trúc thành ba chương. C ƣơn 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN Chương này gồm hai phần chính. Phần thứ nhất nêu tổng quan tình hình nghiên cứu các phương tiện rào đón trong văn bản khoa học tiếng Việt và tiếng Anh. Phần thứ hai trình bày một số cơ sở lí thuyết tạo nền tảng cho việc triển khai các nội dung nghiên cứu, bao gồm một số vấn đề lý luận liên quan đến rào đón, ngôn ngữ học chức năng và lý thuyết đánh giá, thể loại văn bản và văn bản khoa học, phương pháp so sánh đối chiếu.
C ƣơn 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM KẾT HỌC CỦA PHƢƠNG TIỆN RÀO ĐÓN TRONG VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH Chương này trình bày kết quả miêu tả và đối chiếu các đặc điểm kết học của phương tiện rào đón trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh. Các phương tiện rào đón được phân thành ba loại chính: - PTRĐ là từ - PTRĐ là cụm từ - PTRĐ là mệnh đề và cấu trúc câu 9 C ƣơn 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM DỤNG HỌC CỦA PHƢƠNG TIỆN RÀO ĐÓN TRONG VĂN BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH Chương này trình bày kết quả miêu tả và đối chiếu các đặc điểm dụng học của các PTRĐ trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiếng Anh. Dựa vào sự kết hợp của bộ khung lý thuyết của tác giả Hyland (1998) và Yu (2004) PTRĐ được xem xét và phân tích để làm rõ chức năng dụng học. Ngoài ra trong chương này, dựa vào khung lý thuyết của đánh giá, các PTRĐ được xem xét ở phạm trù thái độ, phạm trù thang độ và phạm trù thỏa hiệp để làm sáng r hơn chức năng dụng học của PTRĐ trong VBKHXHTV và VBKHXHTA.
10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu phương tiện rào đón trong văn bản khoa học tiếng Anh Trong nhiều năm gần đây, PTRĐ trở thành một chủ đề thu hút được nhiều quan tâm của các nhà ngôn ngữ học dưới nhiều góc độ khác nhau. Lịch sử hình thành và phát triển của PTRĐ ở cấp độ vĩ mô theo tóm tắt của Yu [192] gồm các hướng nghiên cứu chính như sau: ngữ dụng học và dụng học xã hội. Ở mảng ngôn ngữ học các nghiên cứu của Lakoff [147], Fraser [117] Brown & Levision [87] đã đi sâu vào nghiên cứu Rào đón hiệu chỉnh cho từ hoặc cụm từ trong nội dung mệnh đề/ phát ngôn Ở mảng ngữ dụng học, các nghiên cứu của Hübler [136], Skelton [175], Vande Kopple [184], Hyland [137], Markkanen, R, Steffensen, M. [152], tập trung vào xem xét việc Rào đón hiệu chỉnh giá trị sự thật của mệnh đề và thái độ của người viết đối với nội dung phát ngôn.
Ở mảng dụng học xã hội, Meyers [163], Salager – Meyer [172], Hyland [140], Clemen [96], Markkanen, R. [153] đã nghiên cứu mối quan hệ liên nhân và các mối quan hệ xã hội giữa tác giả và người đọc. Theo tư liệu nghiên cứu, điểm qua các công trình nghiên cứu về rào đón trên thế giới, có thể phân thành hai hướng chính: nghiên cứu rào đón trong hội thoại tự nhiên và nghiên cứu rào đón trong các văn bản/ ngôn bản mang tính khoa học. Ở nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung đi sâu vào phân tích các nghiên cứu dựa trên ngữ liệu là VBKH.
Theo đó, các nghiên cứu về rào đón liên quan đến văn bản khoa học viết thường được phân nhóm theo ngữ liệu nghiên cứu. Tiêu biểu có thể kể đến một số nghiên cứu trong các thể loại văn bản ở các lĩnh vực sau: kinh tế (Pindi and Bloor [167]; Channell [92]), sinh học (Fahnestock 11 [112]; Hyland [140], [141]), y học (Salager-Meyer [171], [172], [173]; Adams- Smith [75]; ElMalik & Nesi [109]; Martin-Martin [162]), di truyền phân tử (Myers [163]), khoa học báo chí (Zuck & Zuck [194], Elena Yury Bashanova [108]), khoa học môi trường (Bonyadi, A. [137] thực hiện nghiên cứu về PTRĐ trong VBKH viết và đưa ra được những tổng hợp hệ thống về PTRĐ tuy nhiên nghiên cứu này của tác giả mới dừng lại ở việc khảo sát ngữ liệu gồm những văn bản tiếng Anh là sách giáo khoa, bài báo khoa học, luận văn/ luận án từ mười bộ môn khoa học tự nhiên: vật lý, năng lượng hạt nhân, khoa học máy tính, cơ khí, kỹ thuật điện tử, kỹ thuật hóa học; để từ đó đưa ra nhận xét cho việc sử dụng PTRĐ trong VBKH tự nhiên. Các nghiên cứu nhắm đến đối tượng đơn vị ngôn ngữ cụ thể như động từ khiếm khuyết (Hanania, E.
Các nghiên cứu thực hiện trên một phần của VBKH như nghiên cứu của Bruce, I. Nghiên cứu này khảo sát các cấu trúc tri nhận nhưng mới dừng lại ở việc khảo cứu trong phần Phương pháp của các VBKH. Trong một nhánh nghiên cứu khác, các nhà khoa học đã tập trung phân loại, đếm tần suất xuất hiện và làm rõ chức năng của PTRĐ trong sự so sánh đối chiếu các VBKH ở những ngôn ngữ khác nhau. Đầu tiên có thể kể đến nghiên cứu so sánh việc sử dụng PTRĐ trong 12 VBKH tiếng Anh và 12 VBKH của tiếng Ba Tư của tác giả Falahati [115].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra rằng tần suất xuất hiện của PTRĐ trong 12 các VBKH tiếng Anh cao hơn 61.3% khi so với các VBKH tiếng Ba Tư. Bên cạnh đó, tác giả Atai, M. [78] cũng thực hiện nghiên cứu dựa trên 108 VBKH ngôn ngữ ứng dụng của các tác giả người Anh và người Iran. Theo đó, tác giả tập trung nghiên cứu chiến lược ngôn ngữ được các tác giả của mỗi ngôn ngữ sử dụng để thực hiện mục đích rào đón.
Người Iran bản ngữ sử dụng rất ít chiến lược rào đón để hiện thực mục đích mập mờ bất định và các từ bộc lộ các mức độ cam kết vào giá trị sự thật của mệnh đề phát ngôn. Kết quả cho thấy, các biên tập viên tiếng Anh sử dụng khá nhiều các từ thể hiện các mức độ chắc chắn và các từ nhận xét, phê bình. Trong khi đó, số lượng các từ chỉ mức độ chắc chắn được các biên tập viên tiếng Ba Tư lại nhiều hơn đáng kể. Tác giả cũng đưa ra lý giải của kết quả này là do những ảnh hướng của xu hướng văn hóa của cộng đồng trong nỗ lực đưa ra những lời thuyết phục của hai ngôn ngữ.
Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể về tần suất xuất hiện, loại và chức năng của các PTRĐ này trong các văn bản. Tác giả Jalilifar kết luận rằng, sự khác nhau này có thể xuất phát từ việc thiếu nhận thức về các quy tắc sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh học thuật của các tác giả Iran và thiếu bộ khung hướng dẫn chuẩn về quy tắc sử dụng ngôn ngữ học xã hội của các nhà nghiên cứu người Iran. Tác giả Kreutz [146] so sánh việc sử dụng PTRĐ trong các văn bản viết tiếng Anh và tiếng Đức và rút ra nhận xét rằng, trong các VBKH tiếng Anh, vị trí của tác giả được nhận định r ràng hơn khi so với các văn bản tiếng Đức. Trong các văn bản tiếng Anh có xuất hiện ít các cấu trúc bị động và sử dụng 13 nhiều cấu trúc rào đón chú trọng độc giả hơn (sử dụng nhiều các cấu trúc dùng đại từ we/ us để đồng sở chỉ cả người đọc lẫn người viết, qua đó xây dựng được tính thống nhất giữa người viết và độc giả của mình).
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, PTRĐ thực hiện những mục đích ngôn ngữ khác nhau trong tiếng Anh và tiếng Đức. VBKH tiếng Anh thiên về chú trọng người đọc, đề cao sự hợp tác và giảm thiểu những tranh luận. Trái lại, văn phong tiếng Đức lại thiên về chú trọng người viết bằng việc đưa ra nhiều lời khẳng định khẳng định từ phía chủ quan tác giả và tạo khoảng cách giữa người viết – người đọc. Theo tác giả Kreutz, trong khi các VBKH tiếng Đức tập trung thể hiện quan điểm, trình bày kiến thức (Wissensdarstellung) và dấu ấn tác giả trong lĩnh vực thì mục đích chính của các văn bản tiếng Anh lại thúc đẩy tính hiệu quả của các giao tiếp giữa các học giả.
Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt trong cấu trúc tương tác giữa tác giả và người đọc cần lưu ý: các VBKH tiếng Đức có khuynh hướng tách rời tác giả khỏi chủ đề để nhấn mạnh các tuyên bố tác giả đưa ra. Người đọc được cho là bị thuyết phục đơn thuần bởi các số liệu, dữ kiện khách quan (vì một luận cứ chỉ đòi hỏi sự tham gia của tác giả nếu nội dung thiếu tính thuyết phục). Ngược lại, các tác giả tiếng Anh trên thực tế lại cố gắng mở rộng sự tương tác giữa người đọc và người viết với mục đích tạo điều kiện cho việc trao đổi giữa người đọc và tác giả về chủ đề, từ đó đó thúc đẩy thảo luận thêm. Xuất hiện trong nghiên cứu của Vassileva [189], ba loại văn bản của hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Bungari được đưa ra để so sánh: văn bản được viết bởi các tác giả tiếng Anh, văn bản tiếng Anh được viết bởi các tác giả Bulgaria, 14 văn bản tiếng Bulgaria của các tác giả Bulgaria.
Kết quả nghiên cho thấy PTRĐ có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong các văn bản được viết bởi các tác giả người Anh, ít nhất trong các văn bản tiếng Anh được viết bởi tác giả người Bulgaria. Tác giả Yang [194] khi tiến hành khảo sát tần suất xuất hiện của PTRĐ trong các VBKH ngành khoa học vật chất của tiếng Anh và Trung Quốc đã rút ra nhận xét rằng: các tác giả người Trung Quốc có xu hướng trình bày vấn đề trực tiếp vì kết quả nghiên cứu ghi nhận sự xuất hiện vượt trội của các thành phần ước lượng, mặt khác, tần suất xuất hiện của thành phần che chắn lại thấp hơn hẳn. Tác giả Winardi [193] cũng tiến hành khảo cứu và so sánh dạng thức, tần suất xuất hiện của PTRĐ trong các văn bản ngôn ngữ tiếng Anh (được viết bởi các tác giả Mỹ) và tiếng Trung Quốc. Nghiên cứu của ông chỉ ra sự khác biệt khá rõ giữa hai loại văn bản: trong khi các tác giả người Mỹ sử dụng nhiều các PTRĐ là các cụm tính từ, cụm trạng từ, mệnh đề danh ngữ, mệnh đề giới thiệu hơn các tác giả Trung Quốc.