Mở đầu Chương 2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương này trình bày một cách ngắn gọn tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến HVNN nói chung và HVNN khen nói riêng, đồng thời trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm: khái quát hóa các lý thuyết về HVNN, xác lập một số khái niệm liên quan đến HVNN khen trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Hành vi ngôn ngữ khen trong tiếng Nhật Chương này đi sâu miêu tả và phân tích các đặc điểm của HVNN khen trong tiếng Nhật thông qua các điều kiện thực hiện và các dấu hiệu chỉ dẫn hiệu lực ở lời như biểu thức ngữ vi, đích tại lời, nội dung mệnh đề. Hành vi ngôn ngữ khen trong tiếng Việt Trong chương 4, luận văn cũng tiến hành miêu tả và phân tích các đặc điểm của HVNN khen trong tiếng Việt thông qua các điều kiện thực hiện và các dấu hiệu chỉ dẫn hiệu lực ở lời như biểu thức ngữ vi, đích tại lời, nội dung mệnh đề.
Đối chiếu hành vi ngôn ngữ khen trong tiếng Nhật và tiếng Việt 9 Trong chương này, từ kết kết quả phân tích ở chương 3 và chương 4, luận văn tiến hành đối chiếu sự tương đồng và dị biệt của HVNN khen trong tiếng Nhật và tiếng Việt. Kết luận và kiến nghị 10 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN HÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu về HVNN khen trong nước Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến HVNN khen trong tiếng Việt như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hương Giang (2020) với tên gọi Tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ biểu thị ý nghĩa khen – chê trong mục Ý kiến bạn đọc của báo Vnexpress.
Luận văn này đã đưa ra những phương tiện biểu thị ý nghĩa khen dựa trên phương diện từ ngữ, phát ngôn, HVNN. Đối tượng nghiên cứu của luận văn được lấy từ các bình luận thực tế trong mục Ý kiến bạn đọc của báo Vnexpress. Tác giả đưa ra kết luận, có những điểm chung trong việc sử dụng phương tiện ngôn ngữ để thực hiện phản hồi trên hai phương diện đánh giá khen và chê của độc giả như: xu hướng dùng tính từ phong phú, sử dụng nhiều các HVNN khác để thể hiện mục đích khen/chê. Bên cạnh đó, luận văn Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động khen, cảm ơn, xin lỗi qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thủy (2009) cũng là một công trình liên quan đến HVNN khen trong tiếng Việt.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng, trong thực tiễn hoạt động giao tiếp, các biểu thức ngữ vi khen nguyên cấp được sử dụng nhiều hơn biểu thức ngữ vi khen tường minh. Các biểu thức khen tường minh, cảm ơn, xin lỗi đều có chung cấu trúc và các HVNN khen, cảm ơn, xin lỗi mang lại hiệu lực ở lời khác nhau tùy vào hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng cụ thể. Hai nghiên cứu kể trên đã đưa ra được những tổng kết về phương tiện thực hiện, cấu trúc của các biểu thức ngữ vi của HVNN khen trong tiếng Việt. Tuy nhiên, cơ sở lý thuyết liên quan đến HVNN khen trong tiếng Việt chưa thật đầy đủ.
Đối với các nghiên cứu đối chiếu về HVNN khen trong tiếng Việt với các ngôn ngữ khác nhau có thể kể đến gồm: Bùi Thị Phương Chi và Phạm Thị Thu Hà (2005) với Một vài khảo sát về đặc điểm văn hóa của người châu Âu và người Việt thể hiện qua lời khen đã tìm hiểu đặc 11 điểm tâm lý, văn hóa của người Châu Âu và người Việt thể hiện qua hành động khen. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát dữ liệu từ nhóm gồm 30 sinh viên người Việt và 30 sinh viên người châu Âu. Tác giả đưa ra kết luận, chủ đề khen về năng lực - ngoại hình là hai chủ đề thu hút sự quan tâm của nhóm người Việt và người châu Âu Nguyễn Quang (1999) với Một số khác biệt giao tiếp Việt – Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen đã đưa đến kết luận về chủ đề khen nên khen, có tính an toàn cao là cuộc sống tinh thần, khả năng trí tuệ, thăng tiến sự nghiệp và giao tiếp xã hội. Về cách diễn đạt lời khen, người Mỹ và người Việt đều sử dụng cách diễn đạt trực tiếp nhiều hơn hẳn so với các diễn đạt gián tiếp.
Nghiên cứu cũng đã đưa ra một số mẫu khen trực tiếp có tần số xuất hiện cao trong các tình huống được khảo sát. Trần Kim Hằng (2011) với Văn hóa ứng xử của người Việt nam bộ và người Mỹ qua lời khen và lời hồi đáp khen đã tìm hiểu những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa ứng xử thể hiện qua lời khen và lời đáp trong tiếng Việt ở riêng vùng Nam bộ và tiếng Anh ở Mỹ. Trần Kim Hằng đã chỉ ra những biểu hiện văn hóa của hai dân tộc Việt, Mỹ qua các biểu thức khen và hồi đáp khen và xác định được lớp từ ngữ rặt Nam Bộ, cách dùng chúng trong khen và hồi đáp khen. Tuy nhiên, các mẫu câu khen tiếng Việt được khảo sát là của người Việt vùng Nam Bộ.
Vì thế đây chỉ là các mô hình đặc ngữ chứ chưa phải là các mô hình phổ quát. Các nghiên cứu kể trên đều so sánh lời khen trong tiếng Việt với tiếng Anh nhưng phần cơ sở lý luận về khen được lấy để làm căn cứ lý luận cho nghiên cứu này. Ngoài ra, kết luận về đặc điểm tâm lý, văn hóa người Việt thể hiện qua khen trong các công trình của Bùi Thị Phương Chi - Phạm Thị Thu Hà (2005) và sẽ giúp ích trong quá trình hệ thống các biểu thức ngữ vi khen có trong các cứ liệu tiếng Việt. Tuy nhiên, hình thức thu thập dữ liệu của các nghiên cứu kể trên hầu hết dựa vào phương thức điều tra bằng phiếu khảo sát và chỉ giới hạn ở nhóm đối tượng thực hiện khảo sát là sinh viên đại học hoặc nhóm người ở một vùng miền nhất định.
Do đó, kết quả khảo sát chỉ thể hiện được một phần nào đặc điểm tâm lý chứ chưa bao quát hết những đặc điểm chung của hai dân tộc. 12 Ngoài ra, trong phạm vi tìm kiếm của luận văn này, bài viết Đặc điểm ngôn ngữ của hành vi khen trong tiếng Nhật của Ngô Hương Lan (2016) là nghiên cứu duy nhất về HVNN khen trong tiếng Nhật. Nghiên cứu này đã mô hình hóa cấu trúc lời khen bao gồm 3 cấu trúc khen trực tiếp và 9 cách nói thể hiện HVNN khen gián tiếp. Từ đó tác giả rút ra kết luận về các chiến lược lời khen, thể hiện bằng các biểu thức khen trong tiếng Nhật, trong đó phổ biến nhất là các lời khen gián tiếp là nêu lên trạng thái tình cảm, hành động, sự ngưỡng mộ của người khen.
Bài viết này đã đưa ra cái nhìn khá tổng quan về các cấu trúc của các biểu thức khen trong tiếng Nhật. Tuy nhiên, các cứ liệu bằng tiếng Nhật thu thập trong công trình này lại được trích dẫn lại qua các nghiên cứu của các tác giả người Nhật về HVNN khen nên kết luận cũng như các cấu trúc đưa ra còn thiếu tính phổ quát, đôi khi lại mang tính chủ quan của người nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu về HVNN khen ngoài nước Với các công trình đối chiếu HVNN khen trong tiếng Nhật và tiếng Anh có sử dụng nguồn ngữ liệu từ các tác phẩm phim có thể kể đến hai công trình nghiên cứu gồm: Shindo Mitsuo (2018) với công trình Phân tích về mặt ngữ dụng học các biểu hiện khen ngợi trong hội thoại tiếng Nhật và tiếng Anh – Lớp nghĩa tích cực và lịch sự đã tiến hành khảo sát và phân loại các biểu thức khen về hai nhóm chính gồm lời khen tích cực và lời khen tiêu cực (mỉa mai) dựa vào nguồn dữ liệu từ 6 bộ phim hoạt hình Nhật Bản và 6 bộ phim hoạt hình Mỹ. Từ đó rút ra kết luận trong giao tiếp, người Mỹ sử dụng nhiều các biểu thức khen ngợi tích cực hơn người Nhật.
Tác giả đưa ra lý do tần suất khen của người Nhật ít hơn người Mỹ là bởi trong xã hội Nhật, việc những người lớn tuổi hoặc cấp trên khen người ít tuổi hoặc cấp dưới khá phổ biến, nhưng HVNN khen được thực hiện ngược lại thì được coi là không lịch sự. Watson Ari (2019) với Nghiên cứu đối chiếu về Khen trong tiếng Nhật và tiếng Anh Mỹ- Tập trung vào Đối tượng được khen đã dẫn ra được 214 biểu thức khen trong 25 bộ phim truyền hình Nhật Bản và 175 biểu thức khen trong 20 bộ phim truyền hình Mỹ. Dựa trên 3 hình thức khen (trực tiếp, khen gián tiếp, khen kết hợp 13 trực tiếp - gián tiếp) nghiên cứu này tập trung khảo sát về 7 chủ đề khen gồm: ngoại hình, vật sở hữu, năng lực, hành động - tính cách, tổng quan, thành quả, gia đình. Nghiên cứu đã chỉ ra được điểm tương đồng khi đối chiếu về các chủ đề khen này trong tiếng Nhật và tiếng Anh Mỹ đó là các biểu thức khen về hành động - tính cách và khen về năng lực chiếm số lượng khá nhiều, tiếp đến là khen về ngoại hình và thành quả, chiếm số lượng ít nhất là khen về vật sở hữu và gia đình.
Theo đó, điểm khác biệt được tìm thấy ở chủ đề khen về tổng quan, cụ thể là số lượng các biểu thức khen về tổng quan trong tiếng Nhật ít hơn tiếng Anh Mỹ. Lý giải về điều này, tác giả cho rằng người Nhật ít khi khen ngợi một cách chung chung, mà sẽ khen lần lượt các chủ đề đơn lẻ (tính cách, hành động.) trước khi đưa đến những lời khen mang tính tổng quan về một đối tượng nào đó. Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về khen dựa trên phương thức điều tra bằng phiếu khảo sát, phỏng vấn trực tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Nhật như: D. Araki (1985) trong công trình Giao thoa văn hóa, cách thức thực hiện lời khen của người Nhật và người Nhật đã tiến hành so sánh mật độ sử dụng lời khen giữa người Mỹ và người Nhật và đưa ra những kết luận: Người Mỹ thường sử dụng lời khen hơn người Nhật.
Những chủ đề mà người Mỹ thường khen là: ngoại hình, những nét quyến rũ riêng tư trong khi người Nhật thường xuyên khen công việc, học tập, ngoại hình.