CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết về rủi ro vỡ nợ Trước hết, có rất nhiều quan điểm được đưa ra xoay quanh vấn đề rủi ro. Nếu như quan điểm truyền thống mặc định rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc những sự kiện không tốt lành thì quan điểm hiện đại tỏ ra trung lập hơn khi nhìn nhận rủi ro là khả năng xảy ra sự kiện khác với kỳ vọng hay dự đoán ban đầu, và điều này không nhất thiết là dấu hiệu tiêu cực. Ở khía cạnh tài chính, theo quan điểm của Kaplan, Inc (2017), rủi ro phát sinh từ sự không chắc chắn liên quan đến các khoản lỗ hoặc lãi trong tương lai của một thực thể.
Trong các bộ luật cổ nhất còn tồn tại cho đến ngày nay, khái niệm “hợp đồng vay nợ” đã sớm được tìm thấy, và hình phạt dành cho bên không thực hiện đúng theo hợp đồng cũng sớm được xác định. Khái niệm vỡ nợ, vì vậy, đã tồn tại từ lâu và dần được chuẩn hóa. Cụ thể, tổ chức xếp hạng uy tín hàng đầu thế giới Moody’s định nghĩa vỡ nợ “là sự thất bại trong việc thực hiện các khoản thanh toán gốc hoặc lãi vay theo lịch trình đã định”. Về sau, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng từng kết hợp tiêu chí định tính “không có khả năng thanh toán” của bên nợ với tiêu chí khách quan “90 ngày quá hạn” của khoản nợ nhằm xác định rủi ro vỡ nợ.
Trong khi Constantinos Stephanou & Juan Carlos Mendoza (2005) không hoàn toàn tách bạch hai khái niệm “rủi ro tín dụng” và “rủi ro vỡ nợ” mà chỉ thừa nhận rủi ro vỡ nợ như một cách gọi tên truyền thống, Trinidad, C. (2020) lại cho rằng, cùng với mức độ nghiêm trọng của tổn thất, rủi ro vỡ nợ là một trong hai thành phần của rủi ro tín dụng. Mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau, điểm chung giữa rủi ro vỡ nợ và rủi ro tín dụng, về bản chất đều xoay quanh tổn hại gây ra bởi bên đi vay không thực hiện nghĩa vụ nợ đúng như quy định trong hợp đồng. Khi đề cập đến “rủi ro tín dụng”, nhiều quan điểm, trong đó có cả Hiệp ước Basel II, thường liên hệ tới rủi ro hay tổng tổn thất mà bên cho vay phải chịu.
Trong khi đó, “rủi ro vỡ nợ” có xu hướng tập trung hơn vào xác suất mất khả năng hoàn trả khoản nợ của bên đi vay. 4 Bên cạnh đó, có một số quan điểm thể hiện sự đồng nhất hoặc không tách biệt giữa rủi ro vỡ nợ và rủi ro phá sản, điển hình như trong nghiên cứu của Bùi Phúc Trung (2011), Đặng Phương Mai, Đoàn Hương Quỳnh & Trịnh Hoàng Lâm (2020); Michael Breia, Blaise Gadaneczb, Aaron Mehrotra (2020). Tuy nhiên, nhiều công trình khác đã nhấn mạnh vào tính độc lập cũng như mối quan hệ thực sự của hai loại rủi ro này, điển hình như nghiên cứu của Phan Đình Anh & Nguyễn Hòa Nhân (2013). Tại đây, các tác giả đã khẳng định vỡ nợ là một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến DN đối mặt với nguy cơ phá sản.
Ngoài ra, Dung V. Powell và Duc H. Vo đã khẳng định trong nghiên cứu về dự báo tình hình kiệt quệ tài chính tại Đông Nam Á (2021) rằng thời điểm tiến hành phá sản thường cách xa thời điểm xảy ra vỡ nợ. Chưa kể, vỡ nợ, như các định nghĩa kể trên, có thể được xem như một trạng thái bị động của thực thể kinh doanh khi mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ, trong khi phá sản, về mặt pháp lý (xem thêm phụ lục), không chỉ là sự kiện mà còn là quy trình bao gồm việc xác định tình trạng mất khả năng thanh toán và yêu cầu mở/giải quyết thủ tục phá sản của thực thể.
Chốt lại, nhằm chắt lọc và khái quát các quan điểm nêu trên, khóa luận sử dụng phát biểu được đưa ra bởi 2 nhóm nghiên cứu gồm Vassalou & Xing (2004) và Bakshi, Madan, & Zhang (2006) làm định nghĩa về rủi ro vỡ nợ DN (DN) như sau: “Rủi ro vỡ nợ đề cập đến khả năng DN có nợ sẽ không có khả năng trả nợ gốc và lãi cho khoản nợ của mình theo nghĩa vụ quy định. Hoạt động đánh giá rủi ro vỡ nợ 1. Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro vỡ nợ Theo Trinidad, C. Đánh giá rủi ro vỡ nợ cũng đồng thời là chìa khóa trong việc xác định giá và lợi tức của các công cụ tài chính.
Rủi ro vỡ nợ cao hơn thường tương ứng với lãi suất cao hơn. Đối với các ĐCTC nói riêng, điển hình là NHTM - thường đóng vai trò là đơn 5 vị cấp vốn chủ yếu giúp DN duy trì hoạt động, việc đo lường và kiểm soát rủi ro vỡ nợ càng là vấn đề đáng lưu tâm. Cụ thể, tác giả Bùi Phúc Trung (2011) từng nhấn mạnh: “Xác suất vỡ nợ là một trong những cơ sở quan trọng nhất của xếp hạng tín dụng”. Ngược lại, từ góc độ các DN, việc phát hành trái phiếu có rủi ro vỡ nợ cao thường sẽ khiến DN gặp khó khăn hơn khi tiếp cận thị trường vốn.
Cụ thể, các nghĩa vụ nợ không được hoàn thành sẽ ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ các trung gian, nói cách khác là yêu cầu vay mượn tiếp theo tới các trung gian tài chính của DN sẽ bị gián đoạn. Điều này có thể đe dọa trực tiếp đến khả năng hoạt động liên tục của DN. Đánh giá rủi ro vỡ nợ DN, vì vậy, càng là hoạt động cần thiết để phòng ngừa những rủi ro khác. Cụ thể, tác giả Bùi Phúc Trung (2011) từng nhấn mạnh việc “ước lượng rủi ro vỡ nợ một cách chính xác không chỉ có ý nghĩa cho việc định giá đúng các khoản vay, xác suất vỡ nợ của mỗi DN, tuân thủ các quy định pháp lý mà còn góp phần tăng tính thanh khoản, ngăn ngừa khủng hoảng tài chính có thể xảy ra trong tương lai”.
Ở quy mô quốc gia, vấn đề kiểm soát tình trạng vỡ nợ càng trở nên quan trọng khi nó không chỉ tác động đến bản thân các DN trong nước mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới uy tín quốc gia trước các đối tác trên trường quốc tế. Việc tiếp cận dòng vốn từ nước ngoài có thể gặp phải rào cản nếu chất lượng trái phiếu chính phủ hoặc DN sa sút, khả năng vỡ nợ thường trực, cận kề. Khi tình trạng vỡ nợ xảy ra, nếu DN vỡ nợ phải đối mặt với hàng loạt rủi ro tiếp theo mà nghiêm trọng nhất là rủi ro phá sản, thì quốc gia bị coi là vỡ nợ sẽ phải tìm cách tái cấu trúc và thắt lưng buộc bụng để nhanh chóng thoát nợ. Tình trạng vỡ nợ xảy ra với DN có thể ít nghiêm trọng hơn về mặt quy mô song vẫn đem lại tổn thất kinh tế đáng kể hoặc dẫn đến hiệu ứng tổn thất liên hoàn.
Việc chú trọng kiểm soát vỡ nợ, từ đây, không chỉ là động thái tích cực đối với việc cải thiện chất lượng nền kinh tế mà còn góp phần duy trì trạng thái trật tự ổn định của xã hội. Các phương pháp đo lường và đánh giá rủi ro vỡ nợ Tại NHTM và các TCTD, do đặc thù về ngành nghề hoạt động, bao gồm phạm vi, quy mô cũng như đối tượng cùng tham gia vào quan hệ tín dụng, việc xem xét xác 6 suất vỡ nợ thường được thực hiện song song với đo lường rủi ro tín dụng, thứ mà tập trung vào phần tổn thất dự kiến bị gây ra bởi việc bên đi vay không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán. Hiệp ước Basel II, trong trường hợp này, thậm chí còn xem xét đến rủi ro giá trị, “tức là rủi ro mất giá trị do người đi vay chuyển sang xếp hạng tín dụng thấp hơn (chi phí cơ hội của việc không định giá chính xác khoản vay ở mức độ rủi ro mới) mà không bị vỡ nợ” (Constantinos Stephanou & Juan Carlos Mendoza, 2005). Trong khi đó, nếu như các bên tham gia vào quan hệ tín dụng là các cá nhân hoặc tổ chức không đảm nhiệm vai trò như ĐCTC, hoạt động vay mượn giờ đây sẽ sở hữu ít nhất một trong các đặc điểm: diễn ra ở phạm vi hẹp (thường là giữa hai bên); quy mô đa phần nhỏ lẻ (khối lượng tín dụng thấp); thời gian giải ngân nhanh chóng, từ đó áp lực ràng buộc giữa bên vay và bên cho vay phần nào thuyên giảm.
Một khi trạng thái cực đoan xảy ra, mức độ tổn thất cũng phần nào được giới hạn hoặc khó gây ra tổn thất liên hoàn do vỡ nợ chéo. Tương tự, các trái phiếu chất lượng cao thường có tỷ lệ vỡ nợ thấp. Vậy nên lúc này, việc đánh giá xác suất xảy ra vỡ nợ thường quan trọng hơn ước tính mức độ nghiêm trọng của tổn thất trong trường hợp vỡ nợ. Nhìn chung, dù ở bất kỳ kịch bản nào thì việc đo lường xác suất xảy ra vỡ nợ là bước làm cần thiết.
Đo lường xác suất giúp lượng hóa được nguy cơ và đưa ra các phương án ngăn ngừa và phòng hộ kịp thời, trước khi phải quan tâm về mức độ nghiêm trọng tổn thất. Trong phạm vi đề tài này, xác suất vỡ nợ sẽ được tập trung nghiên cứu hơn mức độ nghiêm trọng của tổn thất. Cụ thể, xác suất vỡ nợ (Probability of Default) cho biết khả năng vỡ nợ sẽ diễn ra đối với một công cụ tài chính. Trên thực tế, tỷ lệ này có thể được xác định đồng thời với ngưỡng của tổn thất hoặc tính toán riêng lẻ.
a) Phương pháp xác định đồng thời Đối với phương pháp xác định đồng thời, xác suất vỡ nợ có thể được tính toán cùng lúc với mức độ nghiêm trọng của tổn thất, nhờ đó tính toán được tổng tổn thất dự kiến theo công thức: Tổn thất dự kiến (EL) = Xác suất vỡ nợ (PD) x Mức độ nghiêm trọng của 7 tổn thất (LS). Cách thức tính toán tại đây thường được hỗ trợ bởi VaR – Thước đo giá trị rủi ro (hoặc CvaR – Thước đo giá trị rủi ro có điều kiện), trong đó VaR thường được sử dụng trong “Phương pháp tiếp cận dựa trên đánh giá nội bộ” công bố tại Hiệp ước Basel II. Cụ thể, VaR là phương pháp đo lường được tính bằng tiền của khoản lỗ tối thiểu dự kiến trong một thời kỳ với một xác suất cho sẵn. Ý tưởng cơ bản đằng sau VaR chính là xác định phân phối xác suất những nguồn gốc cơ bản cấu thành rủi ro và tìm cách cô lập tỷ lệ phần trăm xuất hiện các kết quả xấu nhất.