ĐẶT VẤN ĐỀ: Ngày nay, thương mại điện tử ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng với nhiều hình thức khác nhau. Qua đó, bán hàng trực tuyến đang dần trở thành một xu hướng mới mà các công ty, cửa hàng đang áp dụng nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của Internet. Chính vì sự tiện lợi cũng như tiết kiệm được thời gian đi lại, chi phí cho các bên giao dịch nên mọi người có xu hướng ưa chuộng phương thức giao dịch này hơn. Với thương mại điện tử, các chi phí được tiết kiệm đến mức tối đa.
Khách hàng có thể dễ dàng xem sản phẩm, nhanh chóng đặt hàng và được vận chuyển sản phẩm đến tận nơi dù ở xa với bên bán. Bên cạnh đó, việc quảng bá thương hiệu đến các khách hàng thông qua Internet chỉ tiêu tốn chi phí ngang bằng với truyền thông trực tiếp cho một khách hàng. Nhằm theo kịp xu hướng của thị trường cũng như đáp ứng nhu cầu của khách hàng, em đã chọn đề tài “Xây dựng Website bán điện thoại di động trực tuyến” giúp quảng bá sản phẩm của mình đến mới khách hàng một cách nhanh chóng.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI: Xây dựng một hệ thống hỗ trợ cho phép bán hàng trực tiếp trên Internet: - Nhanh chóng, hiệu quả. - Đảm bảo chính xác và tiện lợi cho khách hàng.
- Thuận tiện cho việc mua và bán hàng. - Ngoài các chức năng thì trang web phải được thiết kế sao cho dễ hiểu, giao diện mang tính dễ dùng, đẹp mắt và làm sao cho khách hàng thấy được thông tin cần tìm. Điều quan trọng là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối thông tin khách hàng trong quá trình đặt mua qua mạng. Đồng thời trang web phải luôn đổi mới, hấp dẫn.
SV: Nguyễn Trung Hiếu 9 Lớp: CNTT55 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Quỳnh Mai 1.3 PHẠM VI ĐỀ TÀI: Hệ thống gồm có 2 phần: Thứ nhất: Phần khách hàng: - Khách hàng là những người có nhu cầu mua sắm hàng hóa, họ sẽ tìm kiếm các sản phẩm cần thiết từ hệ thống và đặt mua các mặt hàng này. - Khách hàng xem các thông tin, tin tức mới và khuyến mại trên Web. - Sau khi khách hàng chọn và đặt hàng trực tiếp thì sẽ nhập thông tin mua hàng và xem hóa đơn hàng. Thứ hai: Phần quản trị viên: Quản trị viên được cấp username và password để đăng nhập vào hệ thống thực hiện chức năng của mình: - Chức năng cập nhật, sửa, xóa các sản phẩm, hãng sản phẩm, tin tức… - Tiếp nhập kiểm tra đơn đặt hàng của khách hàng.
Hiển thị đơn hàng.4 ĐỐI TƯỢNG: Website dành cho mọi đối tượng khách hàng có nhu cầu xem sản phẩm và đặt mua sản phẩm trực tuyến.5 GIỚI THIỆU CÔNG CỤ THỰC HIỆN 1.1 Sơ lược về HTML: 1.1 Giới thiệu chung: Trang Web là sự kết hợp giữa văn bản và các thể HTML. HTML là chữ viết tắt của HyperText Markup Language được hội đồng World Wide Web Consortium(W3C) quy định. Một tập tin HTML chẳng qua là một tập tin bình thường, có đuôi. HTML giúp đinh dạng văn bản trong trang Web nhờ các thẻ.
Hơn nữa, các thẻ html có thể liên kết từ hoặc một cụm từ với các tài liệu khác trên Internet. Đa số các thẻ HTML có dạng thẻ đóng mở. Thẻ đóng dùng chung từ lệnh giống như thẻ mở, nhưng thêm dấu xiên phải (/). Ngôn ngữ HTML qui định cú pháp không phân biệt chữ hoa thường.
Ví dụ, có thể khai báo <html> hoặc <HTML>. Không có khoảng trắng trong đinh nghĩa thẻ. SV: Nguyễn Trung Hiếu 10 Lớp: CNTT55 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Quỳnh Mai 1.2 Cấu trúc chung của một trang HTML: <html> <head> <title> Tiêu đề của trang Web </title> </head> <body> <!-- Các thẻ Html và nội dung sẽ hiển thị --> </body> </html> 1.3 Các thẻ HTML cơ bản: - Thẻ <head>.</head>: Tạo đầu mục trang - Thẻ <title>.</title>: Tạo tiêu đề trang trên thanh tiêu đề, đây là thẻ bắt buộc. Thẻ title cho phép bạn trình bày chuỗi trên thanh tựa đề của trang Web mỗi khi trang Web đó được duyệt trên trình duyệt Web.</body>: Tất cả các thông tin khai báo trong thẻ <body> đều có thể xuất hiện trên trang Web.
Những thông tin này có thể nhìn thấy trên trang Web. - Các thẻ định dạng khác. Thẻ <p>…</p>:Tạo một đoạn mới. </font>: Thay đổi phông chữ, kích cỡ và màu kí tự… - Thẻ định dạng bảng <table>…</table>: Đây là thẻ định dạng bảng trên trang Web.
Sau khi khai báo thẻ này, bạn phải khai báo các thẻ hàng <tr> và thẻ cột <td> cùng với các thuộc tính của nó. - Thẻ hình ảnh <img>: Cho phép bạn chèn hình ảnh vào trang Web. Thẻ này thuộc loại thẻ không có thẻ đóng. - Thẻ liên kết <a>.
</a>: Là loại thẻ dùng để liên kết giữa các trang Web hoặc liên kết đến địa chỉ Internet, Mail hay Intranet(URL) và địa chỉ trong tập tin trong mạng cục bộ (UNC). - Các thẻ Input: Thẻ Input cho phép người dùng nhập dữ liệu hay chỉ thị thực thi một hành động nào đó, thẻ Input bao gồm các loại thẻ như: text, password, SV: Nguyễn Trung Hiếu 11 Lớp: CNTT55 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Quỳnh Mai submit, button, reset, checkbox, radio, image. - Thẻ Textarea: < Textarea>. < \Textarea>: Thẻ Textarea cho phép người dùng nhập liệu với rất nhiều dòng.
Với thẻ này bạn không thể giới hạn chiều dài lớn nhất trên trang Web. - Thẻ Select: Thẻ Select cho phép người dùng chọn phần tử trong tập phương thức đã được định nghĩa trước. Nếu thẻ Select cho phép người dùng chọn một phần tử trong danh sách phần tử thì thẻ Select sẽ giống như combobox. Nếu thẻ Select cho phép người dùng chọn nhiều phần tử cùng một lần trong danh sách phần tử, thẻ Select đó là dạng listbox.
- Thẻ Form: Khi bạn muốn submit dữ liệu người dùng nhập từ trang Web phía Client lên phía Server, bạn có hai cách để làm điều nàu ứng với hai phương thức POST và GET trong thẻ form. Trong một trang Web có thể có nhiều thẻ Form khác nhau, nhưng các thẻ Form này không được lồng nhau, mỗi thẻ form sẽ được khai báo hành động (action) chỉ đến một trang khác.2 Sơ lược về ngôn ngữ lập trình PHP: 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của PHP: PHP ngôn ngữ lập trình web được biết đến nhiều nhất ngày nay chắc chắn là sự kế thừa cho sản phẩm công nghệ mang tên PHP / FI. Được tạo ra vào những năm 1994 bởi Rasmus Lerdorf, phiên bản đầu tiên của PHP là một tập hợp đơn giản của kỹ thuật Common Gateway Interface (CGI) nhị phân viết bằng ngôn ngữ lập trình C. Theo nguyên bản thì PHP được Rasmus sử dụng để theo dõi lượng truy cập vào đơn xin việc trực tuyến của mình, ông đặt tên cho nó là “Personal Home Page Tools”.
Qua nhiều năm, vì muốn ngôn ngữ này có nhiều chức năng hơn những gì ông từ mong muốn, Rasmus đã viết lại PHP Tools, viết thêm những dòng code mới để ngôn ngữ này trở nên phong phú hơn. Phiên bản mới này có khả năng tương tác tốt với cơ sở dữ liệu và nhiều hơn nữa, cung cấp một Framework mà người dùng PHP có thể phát triển các ứng dụng web động đơn giản như Guestbook. Trong tháng sáu năm 1995, Rasmus đã chính thức public mã nguồn này, ông cho phép các SV: Nguyễn Trung Hiếu 12 Lớp: CNTT55 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Quỳnh Mai nhà phát triển phần mềm được sử dụng nó nếu họ có khả năng. Điều này cũng giúp cho Rasmus có thể cải tiến PHP dựa vào những ý kiến từ người dùng.
Vào tháng Chín năm đó, Rasmus mở rộng PHP và trong một thời gian ngắn cái tên PHP đã đột nhiên không được nhắc tới. Thay vào đó họ đề cập đến các công cụ như FI (viết tắt của “Forms Interpreter”), nó bao gồm một số chức năng cơ bản của PHP như chúng ta biết đến ngày nay. Nó có các biến như Perl, dịch tự động các biến, và cú pháp nhúng HTML. Cú pháp này cũng tương tự như của Perl, mặc dù hạn chế hơn rất nhiều và cũng đơn giản hơn.
Trong thực tế, để nhúng mã vào một file HTML, các nhà phát triển đã phải sử dụng những ”HTML comments”. Mặc dù phương pháp này không hoàn toàn được đón nhận, FI vẫn tăng doanh thu và được chấp nhận như một công cụ CGI — nhưng vẫn không hoàn toàn được gọi là một ngôn ngữ. Tuy nhiên, điều này bắt đầu thay đổi trong những tháng tiếp theo; Tháng Mười, 1995, Rasmus đã phát hành phiên bản mới, ông viết lại toàn bộ mã nguồn và đặt lại với cái tên PHP và đó cũng là phiên bản ngôn ngữ lập trình đầu tiên trên thế giới được coi là một nền tảng ngôn ngữ tiên tiến. PHP được cố tình thiết kế để trông giống với ngôn ngữ C, làm cho nó trở nên thân thiện và dễ làm quen đối với cả các nhà phát triển C, Perl, và ngôn ngữ tương tự.
Vào tháng Tư năm 1996, kết hợp với tên gọi của phiên bản trước, Rasmus đã giới thiệu PHP / FI. Thế hệ thứ hai của ngôn ngữ lập trình này đã thực sự phát triển PHP từ một bộ công cụ cho tới một ngôn ngữ lập trình theo đúng nghĩa của nó. Nó được ra đời để hỗ trợ cho các cơ sở dữ liệu DBM, mSQL, và Postgres95, cookies, hỗ trợ chức năng người dùng, và nhiều hơn thế. Vào khoảng tháng 6 năm đó, PHP / FI đã được ra mắt phiên bản 2.
Một thực tế rất thú vị đó là chỉ có một phiên bản đầy đủ duy nhất của PHP 2. Sau khi kết thúc phiên bản beta trong tháng Mười Một, 1997, ngôn ngữ PHP đã được viết lại hoàn toàn. Mặc dù nó tồn tại và phát triển trong khoảng thời gian ngắn, PHP vẫn tiếp tục được phổ biến ngày càng nhiều trên thế giới. Năm 1997 và 1998, PHP / FI đã có được sự sùng bái của hàng ngàn người dùng trên toàn thế giới.
Một cuộc khảo sát của Netcraft vào tháng 5/1998, cho thấy gần 60.000 lĩnh vực báo cáo có tiêu đề chứa SV: Nguyễn Trung Hiếu 13 Lớp: CNTT55 Chuyên đề thực tập GVHD: Nguyễn Quỳnh Mai “PHP”, chỉ ra rằng các máy chủ lưu trữ đều được cài đặt PHP. Con số này cũng tương đương với khoảng 1% tất cả các tên miền trên Internet vào thời điểm đó. Mặc dù con số rất ấn tượng, nhưng sự phát triển của PHP / FI đã bị hạn chế; trong khi nó đã có nhiều đóng góp nhỏ và vẫn chủ yếu được phát triển bởi cá nhân Rasmus.2 Các phiên bản PHP: - PHP/FI: PHP được phát triển từ một sản phẩm có tên là PHP/FI.