chương 1. Xây dựng mô hình nghiên cứu và hoàn thành outline chương 2. Nộp bài cho GVHD chỉnh sửa. Công việc 4: Lên kế hoạch chọn mẫu, thiết kế bảng câu hỏi khảo sát và tiến hành khảo sát.
Công việc 5: Đóng khảo sát và bắt đầu chuyển đổi dữ liệu sang SPSS. Công việc 6: Hoàn thành chương 2, tìm hiểu, xây dựng outline chương 3,4. Nộp báo cáo tiến độ cho GVHD. Công việc 7:Hoàn thành chương 3,4 và tiến hành viết chương 5.
Nộp cho GVHD nhận xét. SVTH: Bùi Thị Kiều Diễm - Nguyễn Tuấn Kiệt QTNHvàDVAU K19 Đồ án Tốt nghiệp 8 Công việc 8: Hoàn thiện chương 5, kiểm tra,chỉnh sửa, tổng hợp, định dạng,hoàn chỉnh bài báo cáo. Nộp cho GVHD đánh giá Công việc 9: Hoàn thiện toàn bộ đồ án Công việc 10: Báo cáo bảo vệ đồ án SVTH: Bùi Thị Kiều Diễm - Nguyễn Tuấn Kiệt QTNHvàDVAU K19 Đồ án Tốt nghiệp 9 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 THỰC PHẨM BỀN VỮNG 2.1 Khái niệm tiêu dùng bền vững Khái niệm về “Tiêu dùng bền vững” đã được đề cập từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Rio Earth năm 1992, trong Chương trình Nghị sự 21, một hướng đi mới về tiêu dùng có tính bền vững đã được đề xuất.
Đây bao gồm việc sử dụng tài nguyên năng lượng và thiên nhiên một cách hiệu quả hơn (bằng cách giảm hoặc chuyển sang sử dụng nguồn nguyên liệu có thể tái tạo); giảm lượng rác thải thông qua việc tái chế và hạn chế bao bì sản phẩm; khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa thân thiện với môi trường; và vai trò lãnh đạo của Chính phủ thông qua các hoạt động mua sắm công. Năm 1994, tại Hội nghị Oslo về sản xuất và tiêu dùng bền vững, định nghĩa đầu tiên về tiêu dùng bền vững đã được đề xuất. Nó nhấn mạnh việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu cơ bản và cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên, vật liệu độc hại, phát thải, và chất thải để không gây hại cho môi trường và cho các thế hệ sau này. Năm 2002, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã nhắc đến định nghĩa về tiêu dùng bền vững, bao gồm các thay đổi trong hành vi tiêu dùng như sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên trong gia đình, giảm thiểu chất thải và ưu tiên mua sắm có ý thức về môi trường.
Năm 2015, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Toàn cầu (GDRC) đã đưa ra định nghĩa: “Tiêu dùng bền vững là việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ có tác động tối thiểu đến môi trường, công bằng về mặt xã hội và khả thi về mặt kinh tế trong khi vẫn đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người trên toàn thế giới. Tiêu dùng bền vững hướng tới tất cả mọi người, ở mọi lĩnh vực và mọi quốc gia, từ cá nhân đến chính phủ và các tập đoàn đa quốc gia.” Geng và cộng sự (2017) đã định nghĩa hành vi tiêu dùng bền vững theo quan điểm của vòng đời sản phẩm bao gồm các giai đoạn mua, sử dụng và xử lý SVTH: Bùi Thị Kiều Diễm - Nguyễn Tuấn Kiệt QTNHvàDVAU K19 Đồ án Tốt nghiệp 10 hoặc cụ thể hơn là mua và sử dụng các sản phẩm bền vững, xử lý và thải bỏ các sản phẩm đã qua sử dụng. Tại Việt Nam, sản xuất và tiêu dùng bền vững là một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững được Liên hợp quốc đề xuất năm 2015 và được nhấn mạnh trong “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” giai đoạn 2011-2020. Định nghĩa này nhấn mạnh việc sử dụng sản phẩm và dịch vụ một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu cơ bản trong cuộc sống mà vẫn giảm thiểu tối đa sử dụng tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu độc hại, đồng thời giảm thiểu phát thải gây ô nhiễm trong chu kỳ sống của sản phẩm.2 Thực phẩm bền vững Khái niệm tiêu dùng thực phẩm bền vững: Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên Hợp Quốc (FAO): Tiêu dùng thực phẩm bền vững là tiêu thụ thực phẩm ít tác động đến môi trường, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, dinh dưỡng và cuộc sống lành mạnh cho các thế hệ hiện tại và tương lai.
Tiêu thụ thực phẩm bền vững bảo vệ, tôn trọng đa dạng sinh học và hệ sinh thái, được chấp nhận về mặt văn hóa, dễ tiếp cận, công bằng về mặt kinh tế và giá cả phải chăng; đủ dinh dưỡng, an toàn và tốt cho sức khỏe; đồng thời tối ưu hóa nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người. Hệ thống thực phẩm bền vững: Theo FAO (2018), hệ thống thực phẩm (FS) bao gồm toàn bộ phạm vi của các tác nhân và giá trị gia tăng được liên kết với nhau của họ các hoạt động liên quan đến sản xuất, tổng hợp, chế biến, phân phối, tiêu thụ và thải bỏ sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc nghề cá, và các bộ phận của kinh tế, xã hội rộng hơn và môi trường tự nhiên mà chúng được nhúng vào. Hệ thống thực phẩm bền vững (SFS) là một hệ thống thực phẩm mang lại an ninh lương thực và dinh dưỡng cho tất cả mọi người ở những nơi như vậy một cách mà nền tảng kinh tế, xã hội và môi trường để tạo ra an ninh lương thực và dinh dưỡng cho tương lai các thế hệ không bị tổn hại. Điều này có nghĩa là nó có lợi nhuận (tức là sự bền vững về kinh tế), có lợi ích cho xã hội (tức là sự bền vững xã hội) và có tác động tích cực hoặc tác động trung tính đến môi trường tự nhiên SVTH: Bùi Thị Kiều Diễm - Nguyễn Tuấn Kiệt QTNHvàDVAU K19 Đồ án Tốt nghiệp 11 (tức là, môi trường bền vững).
Trong khuôn khổ này, nghiên cứu này cố gắng điều tra cách cải thiện sản xuất rau an toàn trong bối cảnh tổng thể (FAO, 2018).2 NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 2.1 Định nghĩa nhận thức của người tiêu dùng Nhận thức là một quá trình con người chọn lọc, tổ chức và lý giải thông tin để hình thành một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh mình. Quá trình nhận thức chịu sự tác động của các nhân tố kích thích từ môi trường xung quanh và bản thân chủ thể. Nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành niềm tin, thái độ, hành động, thói quen mua và quyết định mua của người tiêu dùng (Kotler P và Amstrong G, 2017). Người mua thực phẩm hữu cơ thường có học vấn cao (Lee, 2010).2 Các bài nghiên cứu liên quan đến nhận thức của con người đối với thực phẩm bền vững Nghiên cứu “Consumer perceptions of sustainable food production and purchase intentions” (Gracia và Loureiro, 2016) cho thấy rằng nhận thức tích cực về sản xuất thực phẩm bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra ý định mua sắm thực phẩm bền vững.
Người tiêu dùng có xu hướng ưa thích các sản phẩm được sản xuất bằng các phương pháp bền vững và có ảnh hưởng tích cực đến môi trường. Kết quả này cung cấp thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp về cách tăng cường nhận thức và hiểu biết của người tiêu dùng về thực phẩm bền vững để tăng cường ý định mua hàng của họ. Ngược lại với nghiên cứu trên, nghiên cứu "Consumer attitudes and behaviour towards organic foods in Serbia: A case study” (Jovanovic và cộng sự, 2016) cho một kết quả trái ngược. Nghiên cứu này trung vào thị trường Serbia và phát hiện ra rằng mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể trong việc nhận thức về thực phẩm hữu cơ, nhưng việc mua sắm thực phẩm này vẫn chưa phổ biến rộng rãi.
Kết quả này gợi ý rằng có sự chênh lệch lớn giữa ý định mua và hành vi thực tế của người tiêu dùng, và có sự cần thiết trong việc nghiên cứu kỹ hơn về những rào cản cụ thể mà người tiêu dùng đối mặt khi mua sắm thực phẩm bền vững tại các thị trường cụ thể. SVTH: Bùi Thị Kiều Diễm - Nguyễn Tuấn Kiệt QTNHvàDVAU K19 Đồ án Tốt nghiệp 12 Trong khi đó, nghiên cứu "The impact of consumer environmental awareness and ethical consumption on public policy in the UK: A case study approach” (Shaw và cộng sự, 2015) tập trung vào tác động của nhận thức môi trường và đạo đức của người tiêu dùng đối với chính sách công cộng ở Vương quốc Anh. Kết quả cho thấy rằng người tiêu dùng có nhận thức cao về vấn đề môi trường và đạo đức liên quan đến thực phẩm, và họ thường ủng hộ các chính sách công cộng nhằm thúc đẩy sự bền vững trong ngành thực phẩm. Điều này đặt ra một tiềm năng lớn cho việc áp dụng các chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy thực phẩm bền vững và đáp ứng nhận thức của người tiêu dùng.3 THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 2.1 Định nghĩa thái độ của của người tiêu dùng Thái độ được xác định là khuynh hướng tâm lý được tạo ra thông qua việc đánh giá mức độ yêu thích hoặc không yêu thích một tổng thể nào đó, bao gồm sự ủng hộ hoặc không ủng hộ, các giá trị và niềm tin (Eagly A H và Chaiken S, 1995).
Theo định nghĩa của Fishbein và Ajzen (1975), thái độ được hiểu là sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của một người về một hành vi cụ thể. Hoyer và cộng sự (2012) cũng đồng ý rằng thái độ là sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về một đối tượng, hành động, vấn đề hoặc con người. Người tiêu dùng thường có xu hướng chọn lựa sản phẩm và thương hiệu mà họ có thái độ tích cực (Kotler P và Armstrong G, 2017). Aertsents và cộng sự (2009) đã nhấn mạnh rằng thái độ của một cá nhân đối với thực phẩm hữu cơ thường được xây dựng dựa trên các niềm tin nổi bật liên quan đến đặc tính của thực phẩm hữu cơ và các giá trị cá nhân.
Thái độ ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua thực phẩm hữu cơ (Hoàng Thị Bảo Thoa và cộng sự, 2019; Bagher và cộng sự, 2018; Secapramana và Katargo, 2019) ở các quốc gia và trùng với lý thuyết TPB của Ajzen và Fishben. Thái độ tích cực thường dẫn đến ý định mua tích cực (Pavlou và Fygenson, 2006). SVTH: Bùi Thị Kiều Diễm - Nguyễn Tuấn Kiệt QTNHvàDVAU K19 Đồ án Tốt nghiệp 13 2.2 Những bài nghiên cứu liên quan đến thái độ của người tiêu dùng đối với thực phẩm bền vững “Consumer Attitudes and Behaviour Towards Sustainable Food Production: A Review “ (Verain và cộng sự,2018) là một tập hợp các nghiên cứu trước đó về thái độ của người tiêu dùng đối với thực phẩm bền vững.