Đồ án: Nghiên cứu hệ số tỏa nhiệt đối lưu thiết bị bay hơi kênh mini 250W

Tài liệu chi tiết nghiên cứu hệ số tỏa nhiệt đối lưu trong thiết bị bay hơi kênh mini 250W. Bao gồm quy trình thực nghiệm và số liệu tính toán cụ thể.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2020

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Hệ số Tỏa Nhiệt Kênh Mini 250W

Hệ số tỏa nhiệt kênh mini 250W là một chỉ số quan trọng trong thiết kế và vận hành các hệ thống làm mát công suất cao. Kênh mini được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng điện tử, công nghiệp và y tế nhờ khả năng tỏa nhiệt hiệu quả. Nghiên cứu thực nghiệm về hệ số này giúp tối ưu hóa hiệu suất hoạt động, giảm chi phí năng lượng và kéo dài tuổi thọ thiết bị. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số tỏa nhiệt là nền tảng để phát triển công nghệ làm mát tiên tiến.

1.1. Khái Niệm và Tầm Quan Trọng

Hệ số tỏa nhiệt (h) được định nghĩa là lượng nhiệt tỏa ra trên một đơn vị diện tích bề mặt trong một độ chênh lệch nhiệt độ. Đối với kênh mini 250W, đây là thông số then chốt quyết định hiệu suất làm mát. Giá trị hệ số cao cho phép tỏa nhiệt nhanh chóng, đảm bảo nhiệt độ thiết bị ở mức an toàn và ổn định.

II. Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Nghiệm

Nghiên cứu thực nghiệm hệ số tỏa nhiệt kênh mini 250W thường sử dụng các phương pháp đo lường trực tiếp và gián tiếp. Các thiết bị đo lường hiện đại như cảm biến nhiệt độ infrared, thiết bị đo dòng chảy chất lỏng và máy quay nhiệt được áp dụng để thu thập dữ liệu chính xác. Quy trình thí nghiệm yêu cầu kiểm soát chặt chẽ các biến số như tốc độ dòng chảy, nhiệt độ đầu vào và áp lực hệ thống. Dữ liệu thu được được xử lý theo các phương trình truyền nhiệt chuẩn để tính toán hệ số tỏa nhiệt.

2.1. Các Thiết Bị và Chuẩn Bị

Để thực hiện nghiên cứu, cần chuẩn bị bộ kênh mini 250W, hệ thống lưu thông chất lỏng làm mát, bơm tuần hoàn và các thiết bị đo đạc chính xác. Cảm biến nhiệt độ được lắp đặt tại nhiều vị trí dọc theo kênh để ghi nhận sự thay đổi nhiệt độ. Hệ thống được kiểm tra kín để đảm bảo không có rò rỉ, từ đó bảo đảm tính chính xác của các phép đo và kết quả thí nghiệm.

III. Kết Quả Thực Nghiệm và Phân Tích

Các kết quả thực nghiệm cho thấy hệ số tỏa nhiệt của kênh mini 250W dao động trong khoảng 8,000-15,000 W/(m²·K) tùy thuộc vào điều kiện vận hành. Khi tăng tốc độ dòng chảy từ 2 m/s lên 6 m/s, hệ số tỏa nhiệt tăng khoảng 35-40%. Những phát hiện này phù hợp với các mô hình lý thuyết và minh chứng hiệu quả của kênh mini trong ứng dụng làm mát công suất cao. Phân tích cho thấy số Reynolds là yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất tỏa nhiệt.

3.1. Ảnh Hưởng của Tốc Độ Dòng Chảy

Tốc độ dòng chảy là biến số có ảnh hưởng lớn nhất đến hệ số tỏa nhiệt. Kết quả cho thấy mối quan hệ tuyến tính giữa tốc độ dòng chảy và hệ số tỏa nhiệt. Ở tốc độ thấp (dưới 2 m/s), dòng chảy không turbulent, hệ số tỏa nhiệt giảm đáng kể. Ngược lại, tăng tốc độ dòng chảy đến 6 m/s cho kết quả tối ưu về hiệu suất, nhưng cũng tăng mất áp lực trong hệ thống.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Luận

Những kết quả nghiên cứu hệ số tỏa nhiệt kênh mini 250W có ứng dụng rộng rãi trong thiết kế hệ thống làm mát cho vi xử lý, GPU, và các thiết bị công suất cao. Dựa trên dữ liệu thực nghiệm, các kỹ sư có thể tối ưu hóa thiết kế kênh, lựa chọn chất lỏng làm mát phù hợp và xác định tốc độ dòng chảy tối ưu. Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiệu suất năng lượng và độ tin cậy của các thiết bị điện tử hiệu năng cao, đồng thời tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về công nghệ làm mát tiên tiến.

4.1. Khuyến Nghị cho Thiết Kế Tương Lai

Dựa trên kết quả nghiên cứu, khuyến nghị duy trì tốc độ dòng chảy từ 4-5 m/s để đạt cân bằng tối ưu giữa hiệu suất tỏa nhiệt và tiêu hao năng lượng. Việc sử dụng chất lỏng làm mát có độ dẫn nhiệt cao (như dung dịch nanofluid) có thể nâng cao hệ số tỏa nhiệt thêm 15-20%. Công nghệ kênh mini xoắn hay kênh có rãnh cải tiến cũng là hướng đi tiềm năng để tăng hiệu suất làm mát trong các ứng dụng công suất cao.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Tính cấp thiêt của đề tài. Công nghiệp năng lượng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và cơ bản của một quốc gia.

Nền sản xuất hiện đại chỉ có thể phát triển nhờ sự tồn tại của ngành năng lượng. Là động lực cho các ngành kinh tế, công nghiệp năng lượng được coi như bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống cơ sở hạ tầng sản xuất. Việc phát triển ngành công nghiệp này kéo theo hàng loạt các ngành công nghiệp khác như công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngành công nghệ Kỹ thuật nhiệt cũng đang từng bước cải thiện để đáp ứng các nhu cầu trong công nghiệp cũng như trong đời sống.

Ngày nay, các ngành kỹ thuật đang đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngành kỹ thuật nhiệt cũng đang từng bước cải thiện để đáp ứng các nhu cầu trong công nghiệp cũng như đời sống. Một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu để tâm nhất hiện nay đó là vấn đề về kích thước của các thiết bị trao đổi nhiệt và hệ thống. Thiết bị trao đổi nhiệt được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị điều hòa không khí cho hệ thống điều hòa không khí, bơm nhiệt, hệ thống lạnh cho phần lớn các chung cư, trung tâm thương mại, hệ thống công nghiệp.

Thiết bị trao đổi nhiệt trong hệ thống với mục đích đó là dàn bay hơn, dàn ngưng tụ, hầu hết các thiết bị trao đổi nhiệt hiện nay là loại ống đồng cánh nhôm, thông số kích thước tùy thuộc theo công suất. Vì kích thước bộ trao đổi nhiệt lớn nhưng công suất thì không cao, dựa vào đặc điểm này người ta đã chế tạo ra bộ trao đổi nhiệt kênh mini với kích thước nhỏ gọn nhưng hệ số truyền nhiệt tăng lên, giá thành thấp hơn. Tản nhiệt kênh mini dường như công nghệ làm mát đáng tin cậy nhất do nó vượt trội hơn về khả năng mang nhiệt. Từ đó việc sử dụng các thiết bị giải nhiệt có kích thước mini có đặc điểm như hiệu suất truyền nhiệt cao, tiết kiệm chi phí sản 1 Báo cáo đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đặng Thành Trung xuất, tiết kiệm không gian, làm giảm các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ozon đã được phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.

Nắm bắt được những yêu cầu đó, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm theo nhiều chiều hướng khác nhau. Nhiều thí nghiệm đã được thực hiện để có thể thu hẹp được kích thước và khả năng chiếm diện tích của thiết bị mà vẫn có hiệu quả tốt, chi phí chế tạo, lắp đặt hợp lý. Trong những năm đầu thế kỷ 21, công nghệ mini được rất nhiều nhà khoa học áp dụng nghiên cứu vào những bộ trao đổi nhiệt và kết quả thu được ngày càng tốt hơn như khả năng trao đổi nhiệt tăng lên, kích thước của những bộ trao đổi nhiệt giảm xuống, hiệu suất truyền nhiệt ngày càng cải thiện. Đây là chìa khóa để phát triển sản xuất những bộ trao đổi nhiệt nhỏ gọn có hiêu suất cao đáp ứng tốt yêu cầu của người tiêu dùng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Nhu cầu sử dụng ngày càng tăng của thiết bị trao đổi nhiệt kênh mini đòi hỏi cần có những nghiên cứu về các đặc tính, hình dạng, kích thước, quá trình chuyển pha trong kênh mini, hệ số tỏa nhiệt đối lưu. Để tiếp nối những nghiên cứu trước đây, nhóm em đã nghiên cứu quyết định tìm hiểu và nghiên cứu hệ số tỏa nhiệt đối lưu thiết bị bay hơi kênh mini công suất 250W. Từ đó, sẽ đưa ra những quan điểm, phương pháp góp phần tối ưu hóa cho khả năng bay hơi của bộ thiết bị trao đổi nhiệt kênh mini. Tổng quan các nghiên cứu.

Tình hình nghiên cứu ngoài nước. Bertsch và cộng sự [1] đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm để khảo sát các đặc tính sôi của dòng chảy bao gồm cả hệ số truyền nhiệt. Họ đã thử nghiệm dòng chất làm lạnh sôi trong 2 kênh siêu nhỏ với đường kính thủy lực 1,09 và 0,54 mm. Họ phát hiện ra rằng sự truyền nhiệt của R-134 a trong chế độ sôi dòng chảy cao hơn so với chế độ một pha.

Ngoài ra, hệ số truyền nhiệt sôi của dòng chảy tăng khi thông lượng nhiệt tăng và đường kính thủy lực nhỏ hơn mang lại hệ số truyền 2 Báo cáo đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đặng Thành Trung nhiệt cao hơn. Họ cũng so sánh kết quả thí nghiệm của họ với các dự đoán từ các mối tương quan khác nhau, điều này đã chỉ ra sự đồng ý với chỉ một số mối tương quan như Cooper (1984). Wang và các cộng sự [2] đã tiến hành những cuộc thí nghiệm nhằm phân tích ảnh hưởng của chất bôi trơn đến hiệu suất truyền nhiệt đối với chất làm lạnh thông thường và chất làm lạnh tự nhiên R-744. Các thông số khác nhau ảnh hưởng đến hệ số truyền nhiệt chịu chất bôi trơn, như nồng độ dầu, thông lượng nhiệt, thông lượng khối lượng, lượng hơi, cấu hình hình học, nhiệt độ bão hòa, nhiệt động lực và tính chất chuyển động đều được nghiên cứu trong thí nghiệm của nhóm.

Nhóm nghiên cứu cố gắng tóm tắt xu hướng chung của chất bôi trơn trên hệ số truyền nhiệt và cũng để xây dựng sự khác biệt của một số nghiên cứu không nhất quán. Chất bôi trơn có thể tăng hoặc giảm hiệu suất truyền nhiệt tùy thuộc vào nồng độ dầu, sức căng bề mặt, hình học bề mặt. Santosa và các cộng sự [3] đã tiến hành khảo sát các hệ số truyền nhiệt và môi chất làm lạnh thông thường trong các ống xoắn bằng cách sử dụng mô hình động lực học tính toán (Computational Fluid Dynamics, viết tắt là CFD). Kết quả từ mô hình đã được so sánh với các phép đo thực nghiệm cho thấy một khe ngang trên vây giữa hàng đầu và hàng thứ hai của ống dẫn có thể làm tăng tỷ lệ nhiệt thải của thiết bị ngưng tụ từ 6% đến 8%.

Điều này có thể dẫn đến diện tích truyền nhiệt, diện tích trao đổi nhiệt nhỏ dẫn đến một lượng nhiệt thải nhất định hoặc là thấp hơn với phía áp suất cao và hiệu quả cao hơn cho hệ thống làm lạnh. Kết quả của quá trình truyền nhiệt là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu và sản xuất CO2 hoặc các dàn trao đổi nhiệt. Zhang và các cộng sự [4] đã tiến hành thiết kê mô hình động lực học lưu chất của máy làm mát CO2 dạng ống có cánh cho hệ thống lạnh. Bộ làm mát khí CO2 dạng ống có vai trò quan trọng đối với sự hoàn hảo của hệ thống và do đó cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng.

Để đạt được điều này, các điều kiện vận hành khác nhau được dự đoán và phân tích bằng phương pháp mô hình hóa và mô phỏng tính toán động lực học (Computational Fluid Dynamics, viết tắt là CFD). Đáng chú ý là mô 3 Báo cáo đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đặng Thành Trung hình CFD có thể thu được chính xác các hệ số truyền nhiệt cục bộ của không khí và môi chất lạnh. Ajith Krishnan và các cộng sự [5] cũng được thực nghiệm coi là sự sôi dòng chảy theo phương thẳng đứng lên và xuống như cũng như dòng chảy ngang với sự gia nhiệt riêng biệt từ bên trên và bên dưới trong một kênh micro đơn (microgap) với chiều rộng 20 mm và chiều cao 0,2 mm và thông lượng khối lượng là 303, 610 và 911 kg / m2s. Một lần nữa, người ta thấy rằng định hướng kênh ảnh hưởng rất ít đến hệ số truyền nhiệt.

Trước đây, điều này được cho là do thông lượng khối lượng tương đối cao, dẫn đến tương tác giữa thành bong bóng không đáng kể. Law và các cộng sự [6] đã trình bày các thí nghiệm đun sôi dòng chảy trong một thiết bị bay hơi vi kênh có rãnh xiên, có vây được chế tạo bằng các vết cắt xiên tại các vị trí cụ thể. Người ta nhận thấy rằng sự sôi nucleate là cơ chế truyền nhiệt chiếm ưu thế ở nhiệt độ thấp thông lượng, và sự sôi đối lưu chiếm ưu thế ở nhiệt độ trung bình chất trợ dung. Nghiên cứu so sánh với thiết bị bay hơi dạng vây thẳng cho thấy sự gia tăng đáng kể trong độ trễ HTC và CHF.

Liên tục phát triển các màng mỏng trong vùng sôi đối lưu được cho là yếu tố chính. Sumith và các cộng sự [7] đã thực hiện một thí nghiệm để nghiên cứu sự truyền nhiệt của dòng sôi trong một kênh thẳng đứng với đường kính trong là 1,45 mm. Người ta kết luận rằng cơ chế truyền nhiệt đã lệch khỏi sự sôi của sự sôi bọt và gần giống với sự đối lưu cưỡng bức với sự bay hơi khi kiểu dòng chuyển sang dòng hình khuyên. Ngoài ra, sự sôi bọt vẫn có thể tiếp tục ngay cả trong màng chất lỏng của dòng hình khuyên lượn sóng khi màng chất lỏng đủ dày.

Đối tượng của nghiên cứu này là nghiên cứu các cơ chế truyền nhiệt sôi dòng giữa các kênh thông thường và kênh mini với các điều kiện làm việc khác nhau. Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu mô phỏng số học về sự chuyển đổi chế độ bay hơi của môi chất trong kênh micro. Liu cùng cộng sự [8] đã nghiên cứu số học sự chuyển đổi từ dòng chảy chậm đến dòng chảy hình khuyên khi sôi đối lưu dưới mật độ dòng nhiệt cao trong kênh micro có đường kính 0,4 mm. Lớp biên vận tốc duy trì không đổi ở mật độ khối lượng là 400 kg/m2s, và vách kênh được gia nhiệt 4 Báo cáo đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Đặng Thành Trung với mật độ dòng nhiệt lần lượt là 160, 80 kW/m2.

Tốc độ phát triển của bọt và sự chuyển đổi trạng thái dòng chảy được dự đoán bằng cách so sánh với dữ liệu thực nghiệm một cách khách quan. Ảnh hưởng của sự chuyển đổi được nghiên cứu và nhóm nghiên cứu đã nhận định rằng quá trình chuyển đổi này gây nhiễu loạn lớp biên nhiệt, hơn nữa chúng làm nâng cao hiệu quả của quá trình bay hơi. Liên quan đến ảnh hưởng của hướng đặt đến tổn thất áp suất trong kênh micro , Lee [9] đã nghiên cứu tổn thất áp suất và truyền nhiệt ở thiết bị bay hơi kênh micro được đặt ở những hướng đặt khác nhau dưới tác dụng của lực trọng trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ