Chương 1- GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA CHỈ IPV6 1.1 Tổng Quát Trong hơn hai thập kỷ, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và trở nên vô cùng thông dụng của Internet toàn cầu với giao thức IPv4. Khởi đầu từ những mạng nghiên cứu nhỏ đã trở thành mạng Internet toàn cầu mạnh mẽ, to lớn, kết nối phi địa lý, phi khoảng cách, cùng với sự phát triển vũ bão của máy tính và công nghệ thông tin. Kết nối mạng đã trở nên nhanh hơn, mạnh hơn hàng ngàn lần thời kỳ ban đầu, cùng với sự đa dạng của công nghệ truyền dẫn, kết nối và dịch vụ cung cấp trên mạng. Khái niệm mạng thế hệ mới “Next Generation Network” xuất hiện với xu hướng hội nhập mạng viễn thông và Internet ngày càng trở nên rõ nét, nhằm cung cấp một nền tảng cơ sở hạ tầng duy nhất với đa dạng dịch vụ đó là giao thứcIPv6.2 Hạn chế của thế hệ địa chỉ IPv4.
Mục tiêu phát triển IPv6 1.1 Sự cạn kiệt địa chỉ IPv6 Những thập kỷ vừa qua, do tốc độ phát triển mạnh mẽ của Internet, không gian địa chỉ IPv4 đã được sử dụng trên 60%. Những tổ chức quản lý địa chỉ quốc tế đặt mục tiêu “sử dụng hiệu quả” lên hàng đầu. Những công nghệ góp phần giảm nhu cầu địa chỉ IP như NAT (công nghệ biên dịch để có thể sử dụng địa chỉ IP private), DHCP (cấp địa chỉ tạm thời) được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, hiện nay, nhu cầu địa chỉ tăng rất lớn: - Internet phát triển tại những khu vực dân cư đông đảo như Trung Quốc, Ấn Độ - Những dạng dịch vụ mới đòi hỏi không gian địa chỉ IP cố định (tỉ lệ sử dụng địa chỉ/khách hàng là 1:1) và kết nối dạng đầu cuối – đầu cuối: dịch vụ DSL, cung cấp dịch vụ Internet qua đường cáp truyền hình, việc phát triển các mạng giáo dục, game trực tuyến, thiết bị di động tham gia vào mạng Internet, truyền tải thoại, audio, video trên mạng… Sinh viªn: SANBEAN 4 Líp: TIN HỌC KINH TẾ- 46A §Ò ¸n chuyªn ngµnh 1.2 Hạn chế về công nghệ và nhược điểm IPv4 Cấu trúc định tuyến không hiệu quả: Địa chỉ IPv4 có cấu trúc định tuyến vừa phân cấp, vừa không phân cấp.
Mỗi router phải duy trì bảng thông tin định tuyến lớn, đòi hỏi router phải có dung lượng bộ nhớ lớn. IPv4 cũng yêu cầu router phải can thiệp xử lý nhiều đối với gói tin IPv4 Để giảm nhu cầu tiêu dùng địa chỉ, hoạt động mạng IPv4 sử dụng phổ biến công nghệ biên dịch NAT (Network Address Translator). Trong đó, máy chủ biên dịch địa chỉ (NAT) can thiệp vào gói tin truyền tải và thay thế trường địa chỉ để các máy tính gắn địa chỉ Private có thể kết nối vào mạng Internet(Hình1) Mô hình sử dụng NAT của địa chỉ IPv4 có nhiều nhược điểm: - Không có kết nối điểm – điểm và gây trễ: Làm khó khăn và ảnh hưởng Sinh viªn: SANBEAN 5 Líp: TIN HỌC KINH TẾ- 46A §Ò ¸n chuyªn ngµnh tới nhiều dạng dịch vụ (VPN, dịch vụ thời gian thực). Thậm chí đối với nhiều dạng dịch vụ cần xác thực port nguồn/ đích, sử dụng NAT là không thể được.
Trong khi đó, các ứng dụng mới hiện nay, đặc biệt các ứng dụng client-server ngày càng đòi hỏi kết nối trực tiếp end-to-end. - Việc gói tin không được giữ nguyên tình trạng từ nguồn tới đích, có những điểm trên đường truyền tải tại đó gói tin bị can thiệp, như vậy tồn tại những lỗ hổng về bảo mật.3 Mục tiêu trong thiết kế IPv6 IPv6 được thiết kế với những tham vọng và mục tiêu như sau: - Không gian địa chỉ lớn hơn và dễ dàng quản lý không gian địa chỉ. - Hỗ trợ kết nối đầu cuối-đầu cuối và loại bỏ hoàn toàn công nghệ NAT - Quản trị TCP/IP dễ dàng hơn: DHCP được sử dụng trong IPv4 nhằm giảm cấu hình thủ công TCP/IP cho host. IPv6 được thiết kế với khả năng tự động cấu hình, không cần sử dụng máy chủ DHCP, hỗ trợ hơn nữa trong việc giảm cấu hình thủ công.
- Cấu trúc định tuyến tốt hơn: Định tuyến IPv6 được thiết kế hoàn toàn phân cấp. - Hỗ trợ tốt hơn Multicast: Multicast là một tùy chọn của địa chỉ IPv4, tuy nhiên khả năng hỗ trợ và tính phổ dụng chưa cao. - Hỗ trợ bảo mật tốt hơn: IPv4 được thiết kế tại thời điểm chỉ có các mạng nhỏ, biết rõ nhau kết nối với nhau. Do vậy bảo mật chưa phải là một vấn đề được quan tâm.
Song hiện nay, bảo mật mạng internet trở thành một vấn đề rất lớn, là mối quan tâm hàng đầu. - Hỗ trợ tốt hơn cho di động: Thời điểm IPv4 được thiết kế, chưa tồn tại khái niệm về thiết bị IP di động. Trong thế hệ mạng mới, dạng thiết bị này ngày càng phát triển, đòi hỏi cấu trúc giao thức Internet có sự hỗ trợ tốt hơn.3 Triển khái IPv6 toàn cầu 1.1 Tiêu chuẩn hoá va quản lý địa chỉ IPv6 Tiêu chuẩn hóa IPv6: Sinh viªn: SANBEAN 6 Líp: TIN HỌC KINH TẾ- 46A §Ò ¸n chuyªn ngµnh Quá trình phát triển, xem xét, sửa đổi, hoàn thiện hóa các thủ tục Internet phiên bản 6 được thực hiện bởi nhóm làm việc IETF IPv6 Working Group. Sau nhiều năm nghiên cứu, những hoạt động cơ bản của thế hệ địa chỉ này đã được định nghĩa và công bố năm 1998 trong một chuỗi tài liệu tiêu chuẩn từ RFC2460 tới RFC2467.
Trong đó nổi bật nhất là tiêu chuẩn hóa địa chỉ IPv6 RFC 2460 - Internet Protocol, Version 6 (IPv6) Specification, và hai thủ tục thiết yếu trong hoạt động của IPv6, hỗ trợ cho IPv6: RFC 2461- mô tả thủ tục IPv6 Neighbor Discovery Protocol, là thủ tục mới của IPv6 và RFC 2463 mô tả ICMPv6. Cũng trong năm 1998, IETF công bố hai tài liệu chi tiết hơn về địa chỉ IPv6, đó là RFC2373 – IP Version 6 Addressing Architecture (cấu trúc địa chỉ IP phiên bản 6) và RFC2374 – An IPv6 Aggregatable Global Unicast Address Format (mô tả định dạng địa chỉ unicast định tuyến toàn cầu). Trải qua thời gian dài điều chỉnh, cả hai tài liệu này được thay thế cập nhật bởi hai RFC mới. Đó là RFC3513 - Internet Protocol Version 6 (IPv6) Addressing Architecture (Cấu trúc đánh địa chỉ IP phiên bản 6) và RFC3587-IPv6 Global Unicast Address Format (dạng thức địa chỉ IPv6 unicast toàn cầu).
Đồng thời, rất nhiều RFC khác được công bố, định nghĩa tiêu chuẩn hóa cho những chức năng của IPv6, mô tả phiên bản mới hỗ trợ IPv6 cho các dịch vụ như DNS, DHCP…Quản lý địa chỉ Ipv6: Cũng như không gian địa chỉ IPv4, địa chỉ IPv6 được quản lý bởi hệ thống phân cấp các tổ chức quản lý địa chỉ toàn cầu. Trong đó cấp quản lý cao nhất là IANA (Internet Assigned Numbers Authority), tiếp đó là các tổ chức quản lý địa chỉ khu vực (RIR – Regional Internet Registry) 1.2 Tìm hiểu thông tin về thử nghiệm,phát triển IPv6 Thử nghiệm, nghiên cứu IPv6 là mối quan tâm và nỗ lực của rất nhiều tổ chức, mạng nghiên cứu toàn cầu. Trong nhiều năm qua, có nhiều dự án nghiên cứu thử nghiệm IPv6, xây dựng phát triển nhiều mạng IPv6 lớn kết nối nhiều quốc gia, kết nối giữa các châu lục. Hiện nay, mạng lưới kết nối IPv6 ngày càng phát triển.
Người sử dụng tại bất cứ đâu cũng có thể có kết nối IPv6, và có thể Sinh viªn: SANBEAN 7 Líp: TIN HỌC KINH TẾ- 46A §Ò ¸n chuyªn ngµnh thử nghiệm những ứng dụng hỗ trợ IPv6 do những dự án nghiên cứu cung cấp.3 Cập nhật thông tin về IPv6,tìm kiếm ứng dụng thử nghiệm và kết nối IPv6 Người ta có thể kết nối vào mạng IPv6 mà chỉ có một máy tính hay đã xây dựng một mạng thử nghiệm IPv6, ISP cung cấp đường kết nối Internet cho bạn có hỗ trợ IPv6 hay không, người ta đều có thể kết nối tới mạng Internet IPv6. Nếu ISP của ta cung cấp kết nối thuần IPv6 (IPv6 native) thì không có gì phải nói. Tuy nhiên, nếu ta chỉ có đường kết nối Internet IPv4 cũng không sao, ta có thể tìm kiểm những tổ chức làm cầu nối, cung cấp cho mình đường kết nối tới Internet IPv6 và thiết lập một “đường hầm”, sử dụng cơ sở hạ tầng mạng IPv4 tạo kết nối IPv6 tới mạng của tổ chức này. Hiện nay, có rất nhiều tổ chức như vậy.
Hãy tìm hiểu thêm trong phần nội dung về công nghệ đường hầm của cuốn sách này. Sinh viªn: SANBEAN 8 Líp: TIN HỌC KINH TẾ- 46A §Ò ¸n chuyªn ngµnh Chương 2- LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA CHỈ 2. Tổng quát Internet phiên bản 6 (IPv6) là phiên bản nâng cấp của giao thức IPv4, có nhiều thay đổi, bổ sung. Tuy nhiên những thay đổi, bổ sung này không biến đổi bản chất cơ bản hoạt động của IP.
Cấu trúc đánh địa chỉ là nơi có thể quan sát rất rõ những khác biệt giữa IPv4 và IPv6. Địa chỉ IPv6 được thiết kế có chiều dài 128 bít, gấp 4 lần chiều dài của địa chỉ IPv4. Cấu trúc cũng như mô hình địa chỉ có những thay đổi lớn so với phiên bản IPv4.1 Biểu diễn địa chỉ IPv6 2.1 Các hệ số thập phân, nhị phân,hexa decimal Một số hexa tương ứng nhóm 4 số nhị phân. Chúng ta có thể quy đổi qua lại giữa các hệ số nhị phân, thập phân, hexa decimal : Hexa decimal (cơ số 16) 0,1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, A, B, C, D, E, F F= 15 (thập phân) = 1111 (nhị phân) CA82 = 2x160 + 8x161 + 10x162 + 12x163 = 51842 2.2 Cách viết địa chỉ IPv4 Địa chỉ ipv4 gồm 32 bít nhị phân, được chia thành các nhóm 8 bít phân cách nhau bởi dấu chấm và chuyển đổi thành giá trị thập phân cho dễ nhớ.
Sinh viªn: SANBEAN 9 Líp: TIN HỌC KINH TẾ- 46A §Ò ¸n chuyªn ngµnh 2.3 Cách viết địa chỉ IPv6 Địa chỉ IPv6 được viết dưới dạng hexa decimal. Địa chỉ IPV6 có độ dài 128 bít nhị phân. 128 bít nhị phân này được chia thành các nhóm 4 bít, chuyển đổi viết theo dạng số hexa decimal và nhóm 4 số hexa thành một nhóm phân cách bởi dấu “:” như trên. Kết quả, địa chỉ ipv6 được biểu diễn thành một dãy số gồm 8 nhóm số hexa cách nhau bằng dấu “:”, mỗi nhóm gồm 4 chữ số hexa : 2.2 Cấu trúc đánh địa chỉ , các dạng địa chỉ IPv6 2.1 Ba Loại địa chỉ IPv6 1) Địa chỉ unicast Địa chỉ unicast xác định một giao diện duy nhất trong phạm vi tương ứng.
Trong mô hình định tuyến, các gói tin có địa chỉ đích là địa chỉ unicast chỉ được gửi tới một giao diện duy nhất (Hình 1). Địa chỉ unicast được sử dụng trong giao tiếp một – một Hình 1 2) Địa chỉ multicast Địa chỉ multicast định danh nhiều giao diện.