Luận văn Thạc sĩ: Định tội danh trong đồng phạm – Lý luận và thực tiễn

Tài liệu nghiên cứu Định tội danh trong đồng phạm lý luận và thực tiễn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của định tội danh trong đồng phạm

Định tội danh trong đồng phạm là quá trình xác định tội danh của từng người tham gia vào hành vi phạm tội chung. Đây là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong tố tụng hình sự, đặc biệt khi có nhiều người cùng thực hiện một tội phạm. Đồng phạm được định nghĩa là sự tham gia cùng cố ý của nhiều người để thực hiện một tội phạm. Đặc điểm nổi bật của định tội danh trong đồng phạm là phải xác định rõ vai trò của từng người, từ người chủ mưu, người thực行động, đến người giúp sức, người xúi giục. Việc xác định này đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng các dấu hiệu khách quan và chủ quan, đánh giá mức độ tham gia của mỗi đối tượng. Pháp luật hình sự quy định rõ rằng mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi và vai trò của mình.

1.1. Khái niệm về định tội danh trong đồng phạm

Định tội danh là hoạt động pháp luật nhằm xác định tên gọi, bản chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trong trường hợp đồng phạm, định tội danh cần phải xác định được cấu thành tội phạm đối với từng người. Mỗi người đồng phạm sẽ được xác định tội danh riêng biệt dựa trên vai trò, hành vi cụ thể và mức độ tham gia của họ trong tội phạm chung.

1.2. Các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm

Để xác định một vụ án là đồng phạm, cần phải có các dấu hiệu pháp lý cụ thể: dấu hiệu khách quan bao gồm sự tham gia của nhiều người vào hành vi phạm tội; dấu hiệu chủ quan là sự thống nhất cố ý giữa các bên liên quan. Cấu thành tội phạm phải được xác định đầy đủ, bao gồm hành vi, hậu quả, nguyên nhân và mối liên hệ nhân quả giữa chúng.

II. Phân loại người đồng phạm và vai trò của họ

Pháp luật hình sự Việt Nam phân chia người đồng phạm thành bốn loại chính: người chủ mưu, người thực行động, người giúp sức, và người xúi giục. Mỗi loại người có vai trò khác nhau trong tội phạm đồng phạm và do đó sẽ được định tội danh khác nhau. Người chủ mưu là những người lên kế hoạch, quyết định thực hiện tội phạm và chịu trách nhiệm cao nhất. Người thực行động trực tiếp thực hiện hành vi cấu thành tội phạm. Người giúp sức hỗ trợ nhưng không trực tiếp thực hiện. Người xúi giục thuyết phục, ủng hộ những người khác thực hiện tội phạm. Việc xác định vai trò của từng người là bước quan trọng để định tội danh chính xác và công bằng, đảm bảo mỗi người chỉ chịu trách nhiệm hình sự phù hợp với hành vi và mức độ tham gia của họ.

2.1. Vai trò của người chủ mưu và người thực行động

Người chủ mưu có vai trò lên kế hoạch, chủ trì, điều hành việc thực hiện tội phạm đồng phạm. Họ thường chịu trách nhiệm hình sự nặng nhất. Người thực行động là người trực tiếp thực hiện những hành vi cấu thành tội phạm, họ phải chịu trách nhiệm về hành vi cụ thể của mình. Cả hai loại này đều có vai trò quyết định trong định tội danh của vụ án đồng phạm.

2.2. Vai trò của người giúp sức và người xúi giục

Người giúp sức cung cấp vật chất, thông tin hoặc tạo điều kiện thuận lợi nhưng không trực tiếp thực hiện tội phạm. Người xúi giục khuyến khích, thuyết phục hoặc ủng hộ tinh thần người khác thực hiện tội phạm. Hai loại này chịu trách nhiệm hình sự nhẹ hơn nhưng vẫn cần được định tội danh chính xác theo cấu thành tội phạm cụ thể.

III. Quy trình định tội danh trong vụ án đồng phạm

Quy trình định tội danh trong đồng phạm là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng của các cơ quan tố tụng. Bước đầu tiên là xác định các dấu hiệu khách quan và chủ quan của đồng phạm. Tiếp theo, cần phân tích hành vi của từng người tham gia để xác định vai trò cụ thể của họ. Bước thứ ba là xác định cấu thành tội phạm đối với mỗi đối tượng dựa trên hành vi, hậu quả và các yếu tố khác. Cuối cùng, định tội danh được thực hiện bằng cách gán tên gọi và bản chất pháp lý cho từng hành vi. Trong quá trình này, cần phân biệt rõ các hành vi độc lập, hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, và hành vi vượt quá của người đồng phạm để đảm bảo tính công bằng và chính xác.

3.1. Xác định dấu hiệu và vai trò của các đối tượng

Bước đầu tiên trong quy trình định tội danhxác định dấu hiệu khách quan như sự tham gia của nhiều người và dấu hiệu chủ quan như cố ý chung. Sau đó, cần phân tích hành vi cụ thể của từng người để xác định vai trò: chủ mưu, thực行động, giúp sức hay xúi giục. Cấu thành tội phạm phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo tính chính xác của định tội danh.

3.2. Định tội danh và xử lý trường hợp đặc biệt

Trong định tội danh, cần xử lý các trường hợp đặc biệt như hành vi vượt quá, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, và hành vi liên quan đến tội phạm mà cấu thành tội độc lập. Những trường hợp này yêu cầu phân tích chi tiết để tránh định tội danh sai sót và đảm bảo công bằng cho từng đối tượng.

IV. Những khó khăn trong thực tiễn và giải pháp hoàn thiện

Trong thực tiễn hoạt động định tội danh trong đồng phạm, các cơ quan tố tụng thường gặp những khó khăn và vướng mắc đáng kể. Vấn đề chính là những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 còn mang tính chất chung chung, không toàn diện để giải quyết hết các tình huống phức tạp trong thực tiễn. Nhiều vụ án đồng phạm có cấu trúc phức tạp, với hành vi vượt quá hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khiến định tội danh trở nên khó khăn. Để hoàn thiện pháp luật, cần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan; cần đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan tố tụng; tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tố tụng. Đồng thời, cần xây dựng các tiêu chí rõ ràng để xác định cấu thành tội phạm trong các trường hợp phức tạp, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội danh và bảo vệ quyền con người, quyền của công dân.

4.1. Những vướng mắc chính trong định tội danh đồng phạm

Thực tiễn định tội danh gặp nhiều khó khăn như xác định không rõ vai trò của từng người, khó phân biệt hành vi vượt quá với hành vi độc lập, hoặc xử lý tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chưa nhất quán. Cấu thành tội phạm trong đồng phạm có những tính chất đặc biệt khiến việc định tội danh yêu cầu kỹ năng cao từ các cơ quan tố tụng.

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

Giải pháp hoàn thiện bao gồm: sửa đổi, bổ sung quy định Bộ luật hình sự với những hướng dẫn cụ thể; xây dựng tiêu chí rõ ràng cho xác định cấu thành tội phạm; đào tạo, nâng cao trách nhiệm hình sự và chuyên môn cho cán bộ tố tụng; áp dụng các nguyên tắc công bằng trong định tội danh.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương: Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG ĐỒNG PHẠM Chƣơng 2. THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TRONG VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG ĐỒNG PHẠM 1. Những vấn đề lý luận chung về đồng phạm.

Khái niệm đồng phạm và các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm. Tội phạm có thể do một người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trong trường hợp tội phạm do một người thực hiện – khoa học pháp lý hình sự gọi là phạm tội đơn lẻ, trường hợp tội phạm do nhiều người cùng thực hiện có thể có đồng phạm hoặc cũng có thể là trường hợp những người thực hiện tội phạm đã hành động trong sự độc lập hoàn toàn với nhau. Như vậy, trong trường hợp, có nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm là đồng phạm thì có sự phân công vai trò, thống nhất ý chí giữa những người tham gia thực hiện tội phạm nên đồng phạm thường có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ.

Do đó, vì mục đích phòng ngừa tội phạm và xác định đúng TNHS của những người tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm nên “Đồng phạm” đã được quy định tại Điều 20 BLHS năm 1999. Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô phạm tội, được thể hiện trong vụ án có nhiều người tham gia1. Theo từ điển Luật học thì “Đồng phạm là trường hợp phạm tội đặc biệt so với trường hợp phạm tội riêng lẻ”2 Theo từ điển Tiếng Việt “Đồng” có nghĩa là cùng nhau và không thể khác được. “Phạm” được hiểu là xâm phạm đến cái cần được tôn trọng.

“Đồng phạm” được hiểu là cùng phạm tội. Tại khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 đã đưa ra khái niệm đồng phạm như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam, đồng phạm cũng là một hình thức phạm tội nhưng là hình thức phạm tội đặc biệt so với hình thức phạm tội đơn lẻ nên cũng có những dấu hiệu riêng biệt khác nhau so với các hình thức phạm tội khác, đó là các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan trong đồng phạm. Và định nghĩa trên đã nêu đầy đủ các dấu hiệu pháp lý riêng biệt của hình thức phạm tội do nhiều người cùng thực hiện.

Vì vậy, trong một vụ án hình sự có nhiều người 1 Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, NXB. Tư Pháp, Hà Nội, tr.9 2 Bộ tư pháp – Viện khoa học pháp lý (1998), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp, tr.269 6 cùng tham gia thực hiện tội phạm có được xem là một vụ án có đồng phạm hay không thì cần xem xét các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan trong vụ án hình sự đó, như sau:  Dấu hiệu khách quan của đồng phạm Dấu hiệu khách quan của một vụ án đồng phạm là những dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài khi một vụ án hình sự xảy ra, bao gồm bốn dấu hiệu cơ bản là: dấu hiệu số lượng người tham gia thực hiện tội phạm, dấu hiệu hành vi khách quan, dấu hiệu hậu quả phạm tội chung và dấu hiệu mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả phạm tội chung. Dấu hiệu số lượng người tham gia trong vụ án đồng phạm: được quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 là phải có ít nhất từ hai người trở lên tham gia thực hiện tội phạm và mỗi người có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm. Nếu trong phạm tội đơn lẻ thì chỉ có một người thực hiện tội phạm thì trong đồng phạm phải có ít nhất từ hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm.

Và những người này phải đủ điều kiện là chủ thể tội phạm, tức là có đủ độ tuổi chịu TNHS theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999 và không rơi vào trường hợp không có năng lực chịu TNHS theo quy định tại Điều 13 BLHS năm 1999. Trong trường hợp có hai người trở lên cùng thực hiện một tội phạm, mà trong đó chỉ có một người đủ độ tuổi chịu TNHS và có năng lực chịu TNHS thì cũng không xem là đồng phạm, mà chỉ là trường hợp phạm tội đơn lẻ. BLHS quy định đồng phạm phải từ hai người trở lên vì trên thực tế hầu hết các trường hợp phạm tội xảy ra gây nguy hại lớn cho xã hội là những trường hợp có từ nhiều người cùng tham gia thực hiện tội phạm. Khi phạm tội riêng lẻ không ít người có tâm lý sợ hãi, thiếu quyết tâm, gặp khó khăn trở ngại không ít người phạm tội một mình dễ dàng thay đổi ý kiến và có thể ngừng lại không thực hiện hành vi phạm tội nữa.

Nhưng khi hoạt động tập thể, người phạm tội thường có tâm lý dựa vào sức mạnh tập thể nên liều lĩnh hơn, quyết tâm phạm tội cao hơn nên dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng nghiêm trọng hơn. Vì vậy, đồng phạm được đặt ra phải từ hai người trở lên cùng thực hiện hành vi phạm tội. Đồng phạm quy định phải có ít nhất hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm. Hai người trở lên ở đây là những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định nào đó.

Khi có nhiều người tham gia tội phạm không phải mọi trường hợp mọi người đều tham gia mức độ hành vi là giống nhau, có người tham 7 gia ít, có người tham gia nhiều, có người hành vi của họ tác động và góp phần quyết định đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra, có những người mà hành vi của họ tác động nhỏ nhặt, không đáng kể đến hậu quả thì vấn đề đồng phạm chưa cần phải đặt ra. Chính vì vậy, khi đặt ra vấn đề đồng phạm, chúng ta cần phải xem xét một cách toàn diện các dấu hiệu khách quan và dấu hiệu chủ quan của hành vi phạm tội. Dấu hiệu hành vi khách quan trong đồng phạm: thì những người tham gia thực hiện tội phạm trong đồng phạm phải có hoạt động phạm tội chung, nghĩa là hành vi của mỗi người đồng phạm được thực hiện trong sự liên kết, thống nhất với nhau và hành vi của người này là điều kiện hỗ trợ, bổ sung, là điều kiện cho hành vi của người đồng phạm khác làm cho hoạt động phạm tội chung có hiệu quả và nguy hiểm cao hơn. Trong quá trình cùng thực hiện một tội phạm, tùy vào các trường hợp khác nhau mà mỗi người đồng phạm có thể tham gia thực hiện ít nhất một trong bốn loại hành vi sau: - Hành vi trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP, người thực hiện hành vi này được gọi là người thực hành - Hành vi tổ chức việc thực hiện tội phạm (tức là tổ chức để thực hiện các hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được gọi là người tổ chức.

- Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (tức là hành vi xúi giục người khác thực hiện các hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được gọi là người xúi giục - Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (tức là hành vi giúp người khác thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được xem là người giúp sức. Mỗi người phạm tội trong đồng phạm có thể thực hiện một hay nhiều hành vi được mô tả như trên. Trong trường hợp đồng phạm giản đơn (đồng phạm không có phân công vai trò giữa những người tham gia thực hiện tội phạm) thì tất cả người đồng phạm đều thực hiện một loại hành vi là hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm. Trong trường hợp đồng phạm phức tạp (đồng phạm có sự phân công vai trò giữa những người tham gia thực hiện tội phạm), mỗi người trong đồng phạm thực hiện một loại hành vi khác nhau: hành vi thực hành, hành vi tổ chức, hành vi giúp sức, hành vi xúi giục.

Tức là, chỉ có một hoặc một số người trực tiếp thực hiện tội phạm, còn những người khác không trực tiếp thực hiện tội phạm mà chỉ có hành vi 8 tác động đến người khác để người này trực tiếp thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, dù trực tiếp hay gián tiếp thực hiện tội phạm thì những người đồng phạm đều phải tham gia thực hiện một tội phạm có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được mô tả trong Bộ luật hình sự. Khi tham gia thực hiện tội phạm thì thời điểm họ tham gia thực hiện tội phạm có thể tham gia ngay từ đầu, nhưng cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc. Việc xác định thời điểm tham gia thực hiện tội phạm của những người đồng phạm là trước, đồng thời và sau khi tội phạm kết thúc có ý nghĩa xác định hành vi của họ có đồng phạm hay không có đồng phạm trong vụ án đó.

Nếu hành vi của một người liên quan đến việc thực hiện tội phạm không thuộc một trong bốn loại hành vi trên thì không thể xem là người đồng phạm mà chỉ xem là phạm tội đơn lẻ nếu có CTTP quy định về hành vi này. Dấu hiệu hậu quả chung: nghĩa là hậu quả trong đồng phạm phải là hậu quả chung của tất cả những người đồng phạm mang lại, là kết quả do hoạt động chung của những người tham gia trong vụ án đồng phạm tạo nên. Trong quá trình thực hiện tội phạm, một trong những người đồng phạm gây ra hậu quả riêng thì người đó tự chịu TNHS về hậu quả riêng mà mình gây ra. Dấu hiệu mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chung: nghĩa là hành vi của những người đồng phạm phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung.

Trong trường hợp, đồng phạm không có sự phân công vai trò, tức là tất cả người đồng phạm đều trực tiếp thực hiện tội phạm và hành vi của những người này đều là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả phạm tội chung thì mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người đồng phạm này và hậu quả phạm tội chung được gọi là mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ