Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của việc định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - Khái niệm định tội danh Để xác định một tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội thì các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng khác nhau theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hoạt động định tội danh là hoạt động trọng tâm của các hoạt động tố tụng hình sự, các hoạt động tố tụng hình sự khác có chức năng bổ trợ cho hoạt động định tội danh.
Hoạt động định tội danh chính là hoạt động áp dụng pháp luật, trên cơ sở căn cứ theo các quy định của pháp luật hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đưa ra kết luận về một tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về tội phạm mà họ đã thực hiện. Hoạt động định tội danh bao gồm việc xác định tội phạm để từ đó xác định người phạm tội, hoặc ngược lại xác định người phạm tội rồi đến tội phạm. Thực tiễn có những hoạt động nghiên cứu khoa học hình sự, hoạt động bào chữa của Luật sư.mang những đặc điểm giống với hoạt động định tội danh về việc xác định tội phạm, và trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhưng các hoạt động này không phải là hoạt động định tội danh, không phải là hoạt động áp dụng pháp luật mà chỉ mang tính chất nghiên cứu, tranh luận về lĩnh vực tội phạm và việc định tội danh. Hệ quả của các hoạt động trên không dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Tuy nhiên các hoạt động như nghiên cứu, bào chữa nói trên cũng có những mối liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động định tội danh. Có quan điểm định nghĩa về định tội danh như sau: “Định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu 7 thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được miêu tả quy định trong Bộ luật Hình sự để xác định tội phạm đã xảy ra và người phạm tội, cũng như xác định không có tội phạm xảy ra và không có người phạm tội hoặc người bị tình nghi không phải là người thực hiện tội phạm (tức là họ không phạm tội) bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự”[7]. Tác giả cũng đồng tình với quan điểm trên, tuy nhiên khi nói đến mục đích của hoạt động định tội danh không chỉ đơn thuần là xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội mà mục đích của hoạt động định tội danh là để xác định đúng tội phạm, tránh oan sai, không bỏ lọt tội phạm. Do đó, tác giả cho rằng định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được miêu tả quy định trong Bộ luật Hình sự để xác định đúng tội phạm, tránh oan sai nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm.
- Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Theo Từ điển Tiếng Việt thì “lạm dụng” là “sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” [39]; Theo Từ điển Hán Việt thì “tín nhiệm” nghĩa là “tin cậy trong một nhiệm vụ cụ thể nào đó [12], “tài sản” là “tiền của, của cải nói chung” [13] hoặc là “của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng” [43]. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “tín nhiệm” có nghĩa là “coi là đáng tin” [24]. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Vật là một bộ phận của thế giới vật chất được giới hạn trong không gian, và chỉ được coi vật là đối tượng của quyền sở hữu nếu vật đó có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người và con người có khả năng chi phối được, chiếm hữu được nó.
Tùy vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà nhiều vật trong thế giới vật chất trở thành tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. 8 Tiền là vật ngang giá chung dùng làm thước đo giá trị các loại tài sản khác. Tiền được coi là tài sản bởi nó có giá trị lưu hành, là phương tiện thanh toán trong các quan hệ pháp luật như hợp đồng, bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo pháp luật dân sự Việt Nam thì ngoại tệ không được coi là tiền vì nó thuộc loại tài sản hạn chế lưu thông.
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Giấy tờ có giá có nhiều dạng khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu. Đặc điểm chung của giấy tờ có giá là: Xác định được bằng tiền; Chỉ được tạo ra bởi một số chủ thể có điều kiện do Luật định; Chỉ được coi là hợp lệ nếu được phát hành hợp pháp và ở thời điểm có hiệu lực; Khi chuyển nhượng không cần phải chuyển giao thực tế bằng hiện vật mà chỉ cần thông qua thủ tục giấy tờ tại tổ chức có trách nhiệm; Có giấy tờ có khả năng chuyển nhượng và có những giấy tờ có giá không có khả năng chuyển nhượng như cổ phiếu ưu đãi biểu quyết.; Giấy tờ có giá xác nhận quan hệ tài sản với những chủ thể nhất định như quyền đối với vốn góp. Quyền tài sản, theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
Bộ luật Dân sự hiện hành công nhận một số quyền sau đây là quyền tài sản: Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Như vậy, không phải loại tài sản nào cũng là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ví dụ như các quyền tài sản, giấy tờ có giá. Theo Từ điển Hán Việt thì “chiếm” là “lấy làm của mình” [6] hoặc “dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình” [12]. 9 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là “hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình, hoặc một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm” [3].
Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng có thể đưa ra khái niệm định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: Định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật, theo đó, đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật Hình sự để xác định việc có tội phạm hay không và trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đã thực hiện tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chủ thể thực hiện hoạt động định tội danh là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định. Tại Điều 34 của Bộ luật này đã quy định có 03 loại cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án [21]. Trong các cơ quan tiến hành tố tụng thì có nhiều người tiến hành tố tụng nhưng không phải tất cả những người tiến hành tố tụng đều có thẩm quyền định tội danh mà chỉ có các chức danh cụ thể sau: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra [21]; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát [21]; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân [21] mới có thẩm quyền định tội danh.
Những người tiến hành tố tụng khác như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên,.chỉ thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho hoạt động định tội danh, giúp việc cho những người có thẩm quyền định tội danh chính xác và đúng quy định. Định tội danh là một hoạt động áp dụng pháp luật nên trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động định tội danh đều phải hết sức chặt chẽ theo quy định của pháp luật mà cụ thể là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hoạt động định tội danh được tiến hành thông qua nhiều giai đoạn mà tại phần sau của luận văn này tác giả sẽ khái quát về vấn đề này. Đặc điểm định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Từ khái niệm về định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể rút ra một số đặc điểm của hoạt động này như sau: Bản chất của hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật, do đó, định tội danh mang những đặc điểm chung của hoạt động áp dụng pháp luật: - Thứ nhất, hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước.
Hoạt động định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được tiến hành bởi những cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền tiến hành trong phạm vi quyền hạn được pháp luật quy định. Đây là những chủ thể được trao quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ công vụ.