Tổng quan nghiên cứu

Tội phạm xâm phạm quyền sở hữu luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm tại Việt Nam, trung bình chiếm từ 40% đến 45% tổng số các vụ án hình sự thụ lý hàng năm. Trong đó, tội cướp giật tài sản chiếm khoảng 15% đến 18% các vụ án xâm phạm sở hữu tại các đô thị lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu được bảo hiến tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013. Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã dành Điều 171 để quy định về tội danh này, nhưng điều luật vẫn chưa mô tả chi tiết các dấu hiệu hành vi khách quan mà chỉ nêu tên tội danh. Sự thiếu vắng các văn bản giải thích chi tiết dẫn đến tình trạng bất cập kéo dài trong nhận thức lý luận và thực tiễn xét xử.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải quyết những vướng mắc pháp lý then chốt khi định tội danh tội cướp giật tài sản, đặc biệt trong hai trường hợp phức tạp: khi hậu quả chiếm đoạt tài sản chưa xảy ra và khi người phạm tội có hành vi sử dụng vũ lực. Mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, phân định ranh giới giữa cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức, đồng thời xác lập tiêu chí phân biệt giữa tội cướp giật tài sản với tội cướp tài sản hoặc các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Phạm vi nghiên cứu khảo sát toàn diện các bản án hình sự từ năm 2016 đến năm 2021 trên phạm vi cả nước. Kết quả nghiên cứu hướng tới mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ sai sót định tội xuống dưới 1%, nâng cao hiệu quả xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận nền tảng về định tội danh và cấu thành tội phạm được phát triển bởi các chuyên gia luật học hàng đầu như Giáo sư Võ Khánh Vinh và Giáo sư Lê Cảm. Định tội danh được tiếp cận như một quá trình nhận thức logic và hoạt động áp dụng pháp luật có tính bắt buộc của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác định sự tương thích tuyệt đối giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội trên thực tế với các dấu hiệu pháp lý được quy định tại Bộ luật Hình sự.

Khung phân tích tập trung vào 4 yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể (quyền sở hữu tài sản), mặt khách quan (hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt và tẩu thoát), chủ thể (người từ đủ 14 tuổi hoặc đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự), và mặt chủ quan (lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt xuất hiện trước khi thực hiện hành vi). Cơ sở pháp lý trực tiếp gồm Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, kết hợp với các quy phạm phần chung như Điều 2 về cơ sở trách nhiệm hình sự, Điều 12 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 15 về phạm tội chưa đạt và Điều 57 về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện nghiên cứu trên cỡ mẫu gồm 65 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm được xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích, tập trung vào hai nhóm vụ án trọng điểm: nhóm thứ nhất gồm 38 vụ án có hành vi giật tài sản nhưng tài sản chưa dịch chuyển hoặc bị tuột khỏi tay người phạm tội; nhóm thứ hai gồm 27 vụ án có xuất hiện yếu tố dùng vũ lực, xô xát, tấn công hoặc va chạm giao thông gây thương tích trong quá trình gây án.

Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp phân tích lý thuyết luật học và phương pháp nghiên cứu án điển hình. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ bản chất đặc thù của khoa học luật hình sự: lý thuyết định tội chỉ có thể phát huy giá trị khi được đối chiếu, kiểm chứng trực tiếp qua thực tiễn lập luận của Thẩm phán và Kiểm sát viên tại các phiên tòa. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt qua 5 năm áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 nhằm đánh giá chính xác tính ổn định và những bất cập phát sinh trong thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra sự xung đột gay gắt giữa hai quan điểm cấu thành tội phạm khi hậu quả chưa xảy ra. Trong 38 vụ án thuộc nhóm này, có 42,1% bản án sơ thẩm (16 vụ) xác định tội cướp giật tài sản có cấu thành vật chất, từ đó áp dụng Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự để xử phạt theo trường hợp phạm tội chưa đạt khi người phạm tội chưa chiếm giữ được tài sản. Ngược lại, 57,9% bản án (22 vụ), bao gồm nhiều quyết định phúc thẩm như Bản án số 121/2019/HS-PT của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đối với Trần Phát Tài, lại nhận định đây là tội phạm có cấu thành hình thức, hoàn thành ngay từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi giật tài sản công khai, nhanh chóng.

Phát hiện thứ hai làm rõ sự lúng túng trong việc phân định ranh giới giữa cướp giật tài sản và cướp tài sản khi có hành vi bạo lực. Trong 27 vụ án có yếu tố dùng vũ lực, có 33,3% trường hợp (9 vụ) cơ quan điều tra và viện kiểm sát ban đầu gặp khó khăn khi xác định thời điểm và mục đích của bạo lực. Nếu vũ lực diễn ra trước hoặc trong khi chiếm đoạt nhằm làm tê liệt ý chí nạn nhân thì cấu thành tội cướp tài sản theo Điều 168, nhưng nếu vũ lực chỉ phát sinh sau khi đã giật tài sản nhằm mục đích giữ tài sản hoặc tẩu thoát thì thuộc tình tiết hành hung để tẩu thoát theo Điểm đ Khoản 2 Điều 171.

Phát hiện thứ ba ghi nhận tỷ lệ kháng nghị và sửa án liên quan đến lỗi định tội và định khung hình phạt trong các vụ án cướp giật có gây thương tật chiếm tới 22,2% (6 vụ). Điển hình là Bản án số 08/2018/HS-ST tại Đồng Nai xử phạt Đỗ Duy Khánh 9 năm tù về tội cướp giật tài sản với tình tiết gây thương tích 47%, hay vụ án Trương Tấn Tài tại Thành phố Hồ Chí Minh bị xét xử về 2 tội độc lập gồm Giết người (13 năm tù) và Cướp giật tài sản (5 năm tù) do dùng dao tấn công người truy đuổi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các xung đột trên nằm ở kỹ thuật lập pháp tại Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 khi không định nghĩa hành vi khách quan, trong khi Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể thay thế các văn bản cũ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện sự phân hóa quan điểm cấu thành tội phạm (57,9% cấu thành hình thức so với 42,1% cấu thành vật chất) và bảng ma trận đối chiếu 3 tiêu chí phân biệt vũ lực: thời điểm tác động, cường độ tấn công và mục đích sử dụng. So sánh với các nghiên cứu trước đây của Đinh Văn Quế hay Trần Văn Luyện, luận văn khẳng định quan điểm tiến bộ rằng tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức. Hành vi giật mạnh, bất ngờ chính là hành vi thực hiện tội phạm; việc nạn nhân giữ lại được tài sản hay tài sản bị rơi chỉ là kết quả ngoài ý muốn và không làm thay đổi bản chất nguy hiểm của tội phạm đã hoàn thành.

Đề xuất và khuyến nghị

Giải pháp thứ nhất: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nghị quyết cần quy định rõ ràng tội cướp giật tài sản có cấu thành tội phạm hình thức, thời điểm tội phạm hoàn thành tính từ lúc người phạm tội thực hiện hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản. Mục tiêu giảm 90% các vụ án bị hủy hoặc sửa do xác định sai giai đoạn thực hiện tội phạm trong vòng 12 tháng kể từ khi văn bản có hiệu lực.

Giải pháp thứ hai: Xây dựng bộ tiêu chí pháp lý phân định ranh giới giữa tình tiết hành hung để tẩu thoát tại Điểm đ Khoản 2 Điều 171 với tội cướp tài sản tại Điều 168. Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết trước quý 4 năm 2023, quy định rõ mọi hành vi sử dụng vũ lực trước khi tiếp cận tài sản nhằm đè bẹp sự kháng cự phải được chuyển hóa thành tội cướp tài sản.

Giải pháp thứ ba: Tổ chức các chương trình bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ định kỳ hàng quý cho 100% Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán chuyên trách án hình sự trên toàn quốc. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng đánh giá chứng cứ, xác định động cơ và lỗi cố ý trực tiếp trong các vụ án cướp giật tài sản có tính chất phức tạp.

Giải pháp thứ tư: Tuyển chọn và phát triển ít nhất 2 án lệ tiêu biểu về định tội danh cướp giật tài sản trong trường hợp người phạm tội sử dụng xe mô tô phân khối lớn gây tai nạn hoặc dùng hung khí chống trả khi bị truy đuổi, hoàn thành ban hành trước năm 2024 nhằm tạo chuẩn mực thống nhất cho hệ thống Tòa án cả nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân: Tài liệu cung cấp hệ thống lập luận thực chứng từ 65 bản án cụ thể, hỗ trợ giải quyết nhanh chóng các vụ án phức tạp, loại bỏ nguy cơ áp dụng sai khung hình phạt và giảm thiểu tỷ lệ án bị kháng nghị.

Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nắm vững các dấu hiệu cấu thành pháp lý đặc trưng để phân loại chính xác tội danh ngay từ giai đoạn khởi tố, thu thập đầy đủ chứng cứ về yếu tố nhanh chóng, công khai và mục đích chiếm đoạt tài sản.

Luật sư và Người bào chữa: Cung cấp nguồn tư liệu chuyên sâu để xây dựng luận cứ tranh tụng tại tòa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ trong việc xác định đúng khung khoản, tình tiết giảm nhẹ hoặc tranh luận về giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Giảng viên và Học viên ngành Luật: Là tài liệu tham khảo giá trị trong học phần Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, phục vụ nghiên cứu so sánh quy phạm và rèn luyện kỹ năng phân tích hồ sơ vụ án thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Tội cướp giật tài sản theo Bộ luật Hình sự 2015 là tội có cấu thành vật chất hay hình thức? Theo quan điểm khoa học và thực tiễn xét xử tiến bộ, đây là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành ngay từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi công khai, nhanh chóng giật tài sản, bất kể người đó đã tẩu thoát thành công hay chưa.

Hành vi dùng xe máy phân khối lớn để giật tài sản bị xử lý theo khung hình phạt nào? Hành vi này được xác định là dùng thủ đoạn nguy hiểm, thuộc tình tiết định khung tăng nặng quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, với mức hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

Trường hợp giật hụt dây chuyền hoặc làm rơi tài sản tại chỗ thì xử lý ra sao? Người thực hiện hành vi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản. Tùy thuộc vào nhận thức cấu thành hình thức của Hội đồng xét xử, bị cáo có thể bị tuyên tội phạm hoàn thành hoặc phạm tội chưa đạt theo Điều 15 Bộ luật Hình sự.

Khi nào hành vi cướp giật tài sản bị chuyển hóa thành tội cướp tài sản? Nếu người phạm tội sử dụng vũ lực ngay từ đầu để chiếm đoạt tài sản hoặc sau khi giật tài sản mà dùng vũ lực tấn công quyết liệt nhằm giữ bằng được tài sản trước sự can ngăn của chủ sở hữu, hành vi sẽ chuyển hóa thành tội cướp tài sản theo Điều 168.

Người cướp giật làm nạn nhân ngã xe bị thương tích 47% bị xử lý như thế nào? Bị cáo sẽ bị xử phạt theo Điểm a Khoản 3 Điều 171 Bộ luật Hình sự với tình tiết gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm, đồng thời phải bồi thường toàn bộ chi phí y tế và tài sản.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về định tội danh và 4 yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật qua 65 bản án điển hình giai đoạn 2016-2021, chỉ ra tỷ lệ sai sót và xung đột quan điểm xét xử giữa các cấp Tòa án.
  • Khẳng định bản chất cấu thành hình thức của tội cướp giật tài sản và phân định ranh giới bạo lực chuyển hóa sang tội cướp tài sản.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gồm ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch, án lệ và tập huấn chuyên sâu.
  • Các cơ quan tiến hành tố tụng và giới nghiên cứu luật học cần tiếp tục phối hợp triển khai các kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự trong thời gian tới.