Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu. Ở Bộ luật Hình sự năm 1985, lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định hai tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa [26, Điều 134] và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân [26, Điều 157].
Tuy nhiên, đến Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định một tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) áp dụng đối với tất cả các hình thức sở hữu. Điều này thể hiện Đảng và Nhà nước ta không còn phân biệt vị trí, vai trò của từng loại hình thức sở hữu mà coi việc kiên quyết đấu tranh với các tội xâm phạm sở hữu với các hình thức khác nhau là nhiệm vụ của toàn xã hội. Nhóm tội xâm phạm sở hữu được chia thành hai nhóm: các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt. Với cách phân chia này, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc nhóm “các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt”.
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 gồm 13 điều thuộc chương XIV. Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm chung đối với các tội xâm phạm sở hữu: "Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân” [27]. Để đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng ta cần phải xuất phát từ khái nệm tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: 8 z Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [29, Điều 8]. Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật.
Động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc làm cho người khác hiểu sai sự thật mà tin tưởng ủng hộ mình. Để thực hiện thành công công việc chiếm đoạt tài sản của người khác thì người có hành vi lừa đảo thường sử dụng những lời nói gian dối như: thuyết trình, quảng cáo hay, tốt… nhưng tất cả những việc làm đó không đúng với bản chất của vật hoặc sự việc; người lừa đảo còn sử dụng các thủ đoạn và các hành vi gian dối khác như: giả danh người có uy tín, có trách nhiệm, quyền hạn, có địa vị cao trong xã hội hoặc làm giả các loại công văn, giấy tờ, chữ ký của những người có thẩm quyền để làm cho người có tài sản tin tưởng vào họ và giao tài sản [24]. Chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác (hoặc của một nhóm người) thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm. Dấu hiệu chiếm đoạt là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hình thức mục đích chiếm đoạt hoặc hành vi chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm đối 9 z với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, xét về mặt khách quan hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó. Xét về mặt thực tế, chiếm đoạt là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó; xét về mặt pháp lý, quá trình này không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu.
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của người khác thành tài sản của mình. Điểm cơ bản để phân biệt tội này với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản khác được quy định trong Bộ luật Hình sự bởi đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể là: trước khi thực hiện hành vi bằng hình thức lừa đảo, người phạm tội có ý thức chiếm đoạt tài sản từ trước. Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải là những tài sản còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lý của người chủ tài sản. Để thực hiện được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, sau đó mới dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu tài sản tin tưởng trao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản.
Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là căn cứ để người bị hại “tự nguyện” trao tài sản. Như vậy, đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản (thủ đoạn gian dối xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt). Từ những vấn đề nhận thức trên, tác giả khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do người có 10 z năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, bằng các thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài sản cho họ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật đối với tài sản đó”. Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa học luật hình sự. Khách thể của tội phạm là một phần không thể thiếu của bất kỳ một tội phạm nào. Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng đều xâm hại đến khách thể chung, cũng đều xâm hại đến một trong những quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó.
Những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, đó là: …độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [29, Điều 8]. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản, các quyền sở hữu mà tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản. Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là các loại tài sản được thể hiện dưới hình thức vật 11 z chất. Theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [28, Điều 163].
Pháp luật bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp. Nhưng điều đó không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp của công dân khác không bị coi là phạm tội. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, dù tài sản đó là tài sản bất hợp pháp, vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, pháp luật hình sự xử lý người phạm tội lừa đảo để bảo vệ quyền sở hữu và để đảm bảo trật tự an toàn chung của xã hội. Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Mặt khách quan là mặt bên ngoài của hành vi phạm tội do Luật hình sự quy định.
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả nguy hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác cũng đặc trưng cho mặt khách quan của tội phạm đó là hoàn cảnh, thời gian, công cụ, phương tiện phạm tội. Mặt khách quan là yếu tố quan trọng của tội phạm, tính nguy hiểm của tội phạm do tất cả các yếu tố của nó quyết định. Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm.
không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm. Việc nghiên cứu những tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm vì thế có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.