đặt vấn đề một người thực hiện hành vi vừa cố ý lại vừa vô ý (cố ý về hành vi vô ý về hậu quả) như đối với người cố ý vi phạm các quy định về phòng cháy (có biển cẩm lửa nhưng vẫn hút thuốc) gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (cháy kho xăng), nhưng việc gây thiệt hại đến tài sản họ không mong muốn. Trong trường hợp này, lỗi của người phạm tội cũng chỉ là lỗi vô ý chứ không thể nói cố ý được vì nếu cố ý thì phạm huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chứ không còn là vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nữa. Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu không có lỗi thì không bị coi là hành vi tội phạm. Bộ luật hình sự quy định một số trường hợp không phải là tội phạm do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có lỗi như: Sự kiện bất ngờ (Điều 11) phòng vệ chính đáng (Điều 15), tình thế cấp thiết (Điều 16).
Ngoài ra, tuy Bộ luật hình sự không quy định, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử có một số trường hợp tuy có hành vi gây thiệt hại cho lợi ích xã hội hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của công dân, nhưng cũng không bị coi là tội phạm vì người thực hiện hành vi không có lỗi như: Tình trạng không thể khắc phục được hậu quả; bắt người phạm tội quả tang hoặc có lệnh truy nã; chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh; Rủi ro trong nghề nghiệp hoặc trong sản xuất [28, tr. Tuy nhiên, đối với các tội xâm phạm sở hữu, những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự vì không có lỗi ít xảy ra. * Thứ ba, hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt gây ra có thể là hậu quả kép do xâm phạm hai loại quan hệ xã hội: thiệt hại chủ yếu là về tài sản nhưng còn có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; xâm phạm đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu gây ra chủ yếu là thiệt hại về tài sản.
Có thể nói, thiệt hại về tài sản là thước đo để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Trong một số tội, giá trị tài sản bị thiệt hại còn là căn cứ để phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm như: Công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; chiếm giữ trái phép tài sản; sử dụng trái phép tài sản; huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, nếu chưa đến mức quy định của Bộ luật hình sự thì chưa bị coi là tội phạm. Ví dụ: trộm cắp dưới 500.000 đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về hành vi chiếm đoạt hoặc tuy đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt những đã được xoá án thì chưa bị coi là tội phạm. Tuy nhiên, đối với một số tội phạm, ngoài thiệt hại về tài sản, tội xâm phạm sở hữu còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; xâm phạm đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức.
Ví dụ: Tội cướp tài sản, ngoài việc xâm phạm đến tài sản, trong nhiều trường hợp còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của con người; Lợi dụng chức vụ quyền hạn để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, để sử dụng trái phép tài sản còn xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức. Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1. Ý nghĩa của việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Việc định tội danh đúng đối với tội phạm này có những ý nghĩa như sau: Một là, bằng việc cụ thể hóa các quy định Bộ luật hình sự trừu tượng, khoa học vào đời sống thực tế, việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có căn cứ và đúng sẽ là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội một cách công sơ, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời để áp dụng chính xác các quy định khác trong Bộ luật hình sự như: các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, khung (khoản) với mức và loại hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, xác định chính xác tái phạm, tái phạm nguy hiểm; cũng như quyết định hình phạt trong một loạt những trường hợp khác nhau như: phạm tội có đồng phạm, đa (nhiều) tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; v. Hai là, việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có căn cứ và đúng sẽ góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ và các chức năng của Bộ luật hình sự - bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ theo pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Ngoài ra, việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có căn cứ và đúng sẽ góp phần thực hiện tốt nguyên tắc xử lý về hình sự với sự thể hiện các tư tưởng của hàng loạt nguyên tắc tiến bộ như: pháp chế, dân chủ, bình đẳng, công sơ, nhân đạo và trách nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi của người phạm tội; v. Ba là, việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có căn cứ và đúng sẽ còn là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác và đúng đắn các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự, thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử; qua đó, góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân nói chung với một bên là quyền và tự do của người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong lĩnh vực tư pháp hình sự; Bốn là, việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có căn cứ và đúng sẽ đem lại công lý và công bằng trong xã hội, pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và quyền lợi của người bị hại được đền bù, cũng như người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt trước pháp luật; Năm là, nếu việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt không đúng đương nhiên dẫn đến một loạt hậu quả tiêu cực như: bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt người phạm tội; không bảo đảm được pháp chế xã hội chủ nghĩa và tính công bằng của hình phạt do Tòa án quyết định, người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và không bảo đảm quyền và lợi ích cho người bị hại. Ngược lại, ở mức cao hơn, nếu một người không phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, nếu bị định tội danh là các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt không những truy cứu trách nhiệm hình sự không chính xác mà còn xâm phạm thô bạo danh dự và nhân phẩm, các quyền và tự do của công dân; gây ra oan, sai với những hệ lụy vô cùng lớn cho xã hội; qua đó làm giảm uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Những điều kiện bảo đảm cho việc định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Trên cơ sở những điều kiện bảo đảm chung cho việc định tội danh đối với các tội phạm, định tội danh đối với tội cướp cụ thể đương nhiên cũng phải bảo đảm các điều kiện này, bao gồm những điều kiện sau đây: * Điều kiện về năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ của người định tội danh Thẩm quyền cụ thể trực tiếp trong hoạt động định tội danh tuy không được Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự quy định cụ thể, nhưng căn cứ vào quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của những người tiến hành tố tụng hình sự trong hai văn bản pháp luật nói trên, có thể xác định đó là những người tiến hành tố tụng và những người được phân công tiến hành một số hoạt động điều tra (của một số Cơ quan điều tra được quy định trong Pháp lệnh Tổ chức điệu tra hình sự), đó là những người được giao quyền hạn, trách nhiệm giải quyết vụ án và có thẩm quyền ký các văn bản của cơ quan có thẩm quyền chung trong việc định tội danh.
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra. Khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng Cơ quan Điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: + Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định nhập hoặc tách vụ án; + Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; + Quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tam giữ, kê biên tài sản, xử lý vật chứng; + Quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi; + Kết luật điều tra vụ án; + Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra; + Trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra, cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan Điều tra.