Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM. 21 + Nhà nước xây dựng, thực hiện chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân. + Nhà nước tạo điều kiện để mỗi công dân đều có việc làm, khuyến khích mở rộng sản xuất, thu hút sức lao động; tích cực trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệp. + Nhà nước xây dựng chính sách thu nhập hợp lý, điều tiết mức thu nhập giữa những người có thu nhập cao sang những người có thu nhập thấp qua các chính sách về thuế.
+ Nhà nước xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với những người có công, người về hưu, người già yếu cô đơn. + Nhà nước chủ động tìm các biện pháp để giải quyết các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm. - Chức năng giữ vững an ninh - chính trị, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Đây là một trong những chức năng quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong tất cả các giai đoạn phát triển.
Nội dung của chức năng này thể hiện ở những mặt cơ bản sau: + Nhà nước phải tăng cường sức mạnh về mọi mặt, sử dụng các hình thức và phương pháp để giữ vững sự ổn định chính trị, kiên quyết chống lại những ý đồ, hành vi nhằm gây mất ổn định an ninh - chính trị của đất nước. + Bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân. Không ngừng mở rộng việc ghi nhận các quyền con người thành các quyền công dân; xác lập cơ chế pháp lý hữu hiệu nhằm bảo đảm cho các quyền tự do, dân chủ của công 22 MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG. dân được thực hiện trên thực tế; phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi xâm phạm đến các quyền tự do, dân chủ của công dân.
+ Bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thiết lập trật tự pháp luật. Để thực hiện điều này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải tích cực, chủ động trong hoạt động của mình, nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, kết hợp sức mạnh của nhà nước với sức mạnh của xã hội để ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm. b) Trong hoạt động đối ngoại, nhà nước xã hội chủ nghĩa tập trung vào các chức năng sau: - Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đây là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm giữ vững độc lập, chủ quyền của quốc gia, bảo đảm sự ổn định cho quốc gia. Để thực hiện chức năng này các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều tập trung xây dựng một quân đội chính quy, hiện đại có đủ khả năng đối phó với các mưu đồ can thiệp bằng vũ trang từ bên ngoài vào các nhà nước.
Để thực hiện tốt chức năng bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh việc xây dựng quân đội chính quy, từng bước hiện đại, có khả năng chiến đấu cao Nhà nước Việt Nam còn xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, thực hiện chính sách giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, thực hiện chính sách hậu phương - quân đội. Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM. 23 - Chức năng củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Mục đích của chức năng này nhằm mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời góp phần vào việc thiết lập một thế giới dân chủ và tiến bộ. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, hoạt động đối ngoại của nhà nước ngày càng trở nên đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung.
Hiện nay, Nhà nước ta thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng hóa về hình thức, từng bước thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực thị trường toàn cầu. Thị trường và chức năng của thị trường 1. Thị trường Kinh tế hàng hoá là một hình thái tổ chức kinh tế, trong đó diễn ra quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá. Môi trường hoạt động, phát triển và trao đổi hàng hoá là thị trường, đây là nơi diễn ra sự tác động lẫn nhau giữa người tiêu dùng và người sản xuất, mỗi bên theo đuổi những mục đích riêng của mình.
Thị trường giống như người môi giới đóng vai trò trung gian, thu xếp, điều hoà sở thích của 24 MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG. người tiêu dùng và những hạn chế về kỹ thuật có trong tay người sản xuất. Thị trường là trung tâm, là nơi liên hệ, tiếp xúc, so sánh giữa người bán với người mua, giữa những người sản xuất (người bán) với nhau, giữa những người tiêu dùng với nhau Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm thị trường được hiểu với những nội dung và phạm vi khác nhau. Theo cách hiểu thông thường, thị trường là một địa điểm cụ thể diễn ra việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, v., chẳng hạn: một trụ sở, một cái chợ, một trung tâm thương mại.
Theo hướng này khái niệm thị trường còn được mở rộng thêm về mặt không gian địa lý. Ví dụ: thị trường của một địa phương, một vùng lãnh thổ, một quốc gia hay một khu vực quốc tế. Thị trường là một phạm trù riêng của sản xuất hàng hoá. Thị trường ra đời gắn liền với sản xuất hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khái niệm thị trường ngày càng trở nên phong phú, đa dạng. Khái niệm thị trường không thể tách rời phân công lao động. Mác, hễ ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và có sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy có thị trường. Thị trường chẳng qua là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận.
Hoạt động cơ bản của thị trường được thể hiện qua ba nhân tố: cung - cầu - giá cả. Qua thị trường có thể hiểu được mối tương quan giữa cung và cầu tức là mức độ thoả mãn nhu cầu thị trường về hàng hoá và dịch vụ, phạm vi quy mô của việc thực hiện cung - cầu dưới hình thức mua bán hàng Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM. 25 hoá, dịch vụ trên thị trường. Thị trường là nơi kiểm nghiệm giá trị của hàng hoá, dịch vụ và ngược lại hàng hoá, dịch vụ phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường, do đó mọi yếu tố liên quan đến sản xuất kinh doanh, dịch vụ đều phải tham gia vào thị trường.
Cũng có thể hiểu thị trường là một nhóm người tiêu dùng đang có nhu cầu, mức mua chưa được đáp ứng và mong đợi thoả mãn. Cách hiểu này thiên về góc độ của người mua, dung lượng thị trường lớn hay nhỏ là do người mua quyết định. Còn có một cách hiểu nữa về thị trường, coi đó là khái niệm để chỉ lĩnh vực lưu thông hàng hoá nói chung, ở đó người bán và người mua gặp nhau để trao đổi, mua bán hàng hoá. Theo hướng này, để nêu rõ sự vận động của thị trường, có thể coi thị trường là một quá trình trong đó người mua và người bán từng loại hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá cần trao đổi.
Như vậy, trên góc độ tổng quát, thị trường là tổng thể các điều kiện chủ quan và khách quan có liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, cung ứng dịch vụ. gắn liền với nhau, xâm nhập vào nhau. Việc tiêu thụ được tính toán ngay từ khi bắt đầu sản xuất nên ở đây không tách rời điều kiện sản xuất và tiêu thụ.
Có nhiều loại thị trường khác nhau. Hiện nay trong kinh doanh người ta dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để chia thị trường. Mỗi cách phân loại có một ý nghĩa quan trọng 26 MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG. riêng đối với quá trình kinh doanh.
Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: - Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các nước, chia ra thị trường dân tộc và thị trường thế giới. - Căn cứ vào mức độ xã hội hoá của thị trường, chia ra thị trường thống nhất toàn quốc và thị trường khu vực. - Căn cứ vào tính chất hàng hoá lưu thông trên thị trường, chia ra thị trường tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng. - Căn cứ vào vai trò của người mua, người bán trên thị trường, chia ra thị trường người bán và thị trường người mua.
- Căn cứ vào vai trò của từng khu vực thị trường, chia ra thị trường chính (hoặc thị trường trung tâm). - Căn cứ vào số lượng người mua và người bán trên thị trường, chia ra thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh. - Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, chia ra thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động. Cơ chế thị trường là quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân bổ tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất.
Sự tương tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết định ba vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Theo lý thuyết kinh tế học phúc lợi, cơ chế thị trường là cách thức tự động phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế. Đó là vì, mỗi nhà sản xuất đều căn cứ vào giá cả thị Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM. 27 trường để quyết định sản xuất bao nhiêu, sẽ không có sản xuất thừa, cũng sẽ không có sản xuất thiếu. Phúc lợi kinh tế được bảo đảm do không có tổn thất xã hội.