Nghiên cứu ảnh hưởng dinh dưỡng, giới tính đến sinh trưởng, miễn dịch gà thịt

Nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của giới tính, dinh dưỡng đầu đời đến khả năng sinh trưởng, đáp ứng miễn dịch và năng suất chăn nuôi gà thịt.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp

2024

160
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tầm Quan Trọng của Dinh Dưỡng Đầu Đời cho Gà Thịt

Dinh dưỡng đầu đời là giai đoạn quan trọng nhất trong chu kỳ sống của gà thịt, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển của chúng. Trong những tuần đầu tiên sau nở, gà cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để xây dựng nền tảng vững chắc cho sức khỏe và năng suất sinh trưởng. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, chế độ ăn không hợp lý ở giai đoạn này không chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hệ miễn dịch của gà. Theo luận án tiến sĩ từ Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, việc cho ăn đúng thời điểm và lựa chọn thức ăn khởi đầu phù hợp là chìa khóa để đạt được hiệu quả chăn nuôi tối ưu.

1.1. Giai Đoạn Vàng cho Sự Phát Triển

Từ 0 đến 14 ngày tuổi là giai đoạn quan trọng nhất. Nhung mao ruột phát triển nhanh chóng, giúp gà hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả hơn. Những con gà được cho ăn sớm (lúc 0 giờ sau nở) có chiều dài nhung mao tá tràng và không tràng dài hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu hóa và hấp thụ. Đây là nền tảng để đạt tăng trưởng nhanh trong các giai đoạn tiếp theo.

1.2. Ảnh Hưởng đến Miễn Dịch và Sức Khỏe

Hệ miễn dịch của gà được xây dựng từ sớm thông qua dinh dưỡng đầu đời phù hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy gà ăn thức ăn khởi đầu chất lượng cao có hiệu giá kháng thể Gumboro huyết thanh cao hơn, giúp gà có khả năng chống bệnh tốt hơn. Lactobacillus spp. trong ruột tăng, cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa từ sớm.

II. Ảnh Hưởng của Giới Tính và Thời Điểm Cho Ăn

Nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng cả giới tính gàthời điểm cho ăn sau nở đều ảnh hưởng đến năng suất sinh trưởng. Gà trống có khối lượng cơ thể, tiêu thụ thức ăn hàng ngày và tăng khối lượng tốt hơn gà mái, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,001). Tuy nhiên, việc lựa chọn thời điểm cho ăn cũng có tác động đáng kể. Cho gà ăn lúc 0 giờ sau nở giúp phát triển nhung mao ruột tốt hơn so với cho ăn muộn hơn, từ đó cải thiện hiệu quả hấp thụ dinh dưỡng. Tỷ lệ nuôi sống cũng có xu hướng tăng khi gà được cho ăn sớm.

2.1. Sự Khác Biệt giữa Gà Trống và Gà Mái

Gà trống phát triển nhanh hơn gà mái, có tỷ lệ đùi cao hơn (P < 0,01), phù hợp với mục đích sản xuất thịt. Khi nuôi riêng biệt trống và mái, tỷ lệ đồng đều của đàn tăng lên (P < 0,05), giúp quản lý và khai thác hiệu quả tốt hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phân biệt chăn nuôi theo giới tính từ sớm.

2.2. Tối Ưu Hóa Thời Điểm Cho Ăn Sau Nở

Cho gà ăn lúc 0 giờ sau nở là thời điểm tối ưu nhất. Gà được cho ăn sớm có chiều dài nhung mao lớn hơn, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn từ giai đoạn 0-7 ngày. Cho ăn muộn hơn (30 giờ sau nở) làm giảm năng suất sinh trưởng ở giai đoạn đầu, ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của vòng nuôi dục.

III. Vai Trò của Thức Ăn Khởi Đầu Chuyên Biệt

Thức ăn khởi đầu (TAKĐ) được thiết kế đặc biệt cho giai đoạn 0-7 ngày tuổi có tác động rất lớn đến phát triển gà thịt. Sử dụng Vistart - một loại thức ăn khởi đầu chất lượng cao - cho thấy kết quả vượt trội so với thức ăn thương mại thông thường (TATM). Gà ăn Vistart có tốc độ sinh trưởng (P < 0,01) và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn, tiết kiệm chi phí thức ăn. Bên cạnh đó, Vistart làm tăng chiều rộng nhung mao tá tràng và không tràng, cải thiện hấp thụ dinh dưỡng. Hiệu giá kháng thể Gumboro huyết thanh cũng cao hơn ở gà ăn Vistart (P < 0,05), chứng tỏ thức ăn khởi đầu chất lượng tốt giúp xây dựng hệ miễn dịch mạnh mẽ.

3.1. Lợi Ích của Vistart so với Thức Ăn Thương Mại

Vistart chứa các thành phần đặc biệt hỗ trợ tiêu hóa và hấp thụ. Gà ăn Vistart có số lượng Lactobacillus spp. cao hơn trong phân, cho thấy thực vật lợi ích được phát triển tốt hơn. Tỷ lệ nuôi sống cũng có xu hướng cải thiện. Chi phí ban đầu cao hơn nhưng lợi nhuận cuối cùng tốt hơn khi xét đến hiệu suất thức ănsức khỏe đàn.

3.2. Chiến Lược Sử Dụng Thức Ăn Khởi Đầu Tối Ưu

Thức ăn khởi đầu chuyên biệt nên được sử dụng từ 0-7 ngày tuổi, sau đó chuyển sang thức ăn sinh trưởng. Điều này đảm bảo gà có nền tảng phát triển hình thái tốt và miễn dịch vững chắc. Lựa chọn thức ăn chất lượng cao ở giai đoạn này là đầu tư thông minh cho hiệu quả chăn nuôi toàn bộ vòng nuôi.

IV. Hướng Dẫn Chăn Nuôi Gà Thịt Trong Giai Đoạn Đầu

Để đạt hiệu quả tối ưu trong chăn nuôi gà thịt, người nông dân cần tuân thủ các nguyên tắc khoa học dựa trên kết quả nghiên cứu. Đầu tiên, cho ăn sớm sau nở (lúc 0 giờ) là ưu tiên hàng đầu, giúp kích hoạt hệ tiêu hóa và tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng. Thứ hai, sử dụng thức ăn khởi đầu chuyên biệt từ 0-7 ngày tuổi, sau đó chuyển sang thức ăn sinh trưởng phù hợp. Thứ ba, cân nhắc nuôi riêng biệt gà trống và mái để tối ưu hóa tỷ lệ đồng đềutốc độ tăng trưởng. Cung cấp nước sạch và thức ăn với chất lượng đảm bảo là yếu tố cốt lõi. Theo dõi sức khỏe đàn thường xuyên, kiểm tra triệu chứng bệnh sớm và duy trì vệ sinh chuồng trại tốt.

4.1. Kế Hoạch Cho Ăn chi Tiết từ Nở đến 56 Ngày

Từ 0-7 ngày: sử dụng thức ăn khởi đầu chất lượng cao (như Vistart), cho ăn lúc 0 giờ sau nở, tần suất cho ăn nhiều lần/ngày. Từ 8-21 ngày: chuyển sang thức ăn sinh trưởng, tăng dần hàm lượng thô xơ. Từ 22-56 ngày: sử dụng thức ăn hoàn thành, đảm bảo năng lượngprotein phù hợp với tuổi. Cân nặng đàntốc độ tăng trưởng cần được kiểm tra định kỳ.

4.2. Quản Lý Sức Khỏe và Phòng Chống Bệnh

Dinh dưỡng cân bằnc giúp xây dựng hệ miễn dịch mạnh, giảm tỷ lệ mắc bệnh. Cung cấp vitamin và khoáng chất đầy đủ, nhất là giai đoạn đầu. Vệ sinh chuồng trại tốt, thay lót chuồng thường xuyên giảm mầm bệnh. Giám sát sức khỏe đàn hàng ngày, ghi chép tỷ lệ chếtdấu hiệu bất thường để can thiệp kịp thời và tối ưu hóa hiệu quả chăn nuôi.

18/12/2025
Ảnh hưởng của giới tính thời điểm cho ăn sau nở và chế độ dinh dưỡng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm một số giống gà thịt lông màu tại Việt Nam Trong 10 năm qua (2010 - 2020) với sự đổi mới toàn diện, từ công tác giống, thức ăn đến phòng trừ dịch bệnh, đàn gia cầm tăng trưởng trên 5%/năm. Theo Cục Chăn nuôi, đến cuối năm 2019, tổng đàn gia cầm đạt trên 481 triệu con; trong đó, đàn gà gần 383 triệu con, chiếm 79,5%; đàn thủy cầm gần 99 triệu con, chiếm 20,5%. Trong tổng đàn gà, gà thịt chiếm 79,9%, gà đẻ chiếm 20,1%.

Đối với gà thịt thì gà công nghiệp trắng chiếm 23,4%, gà lông màu chiếm 76,6%. Thời điểm tháng 11/2022, tổng đàn gia cầm cả nước khoảng 533 triệu con. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 11 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1,7 triệu tấn; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 16,4 tỷ quả. Dự kiến cả năm 2022, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 2,0 triệu tấn, tăng 4,2% so với năm 2021; sản lượng trứng ước đạt 18,4 tỷ quả tăng 4,6% so với năm 2021.

Trong những năm gần đây, bình quân mỗi năm số lượng gia cầm trên cả nước tăng trên 10%, trong đó đàn gà tăng trưởng trên 11,5%, sản lượng thịt gia cầm tăng bình quân gần 11%/năm (Tổng cục thống kê, 2020). Chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã có những bước phát triển nhảy vọt. Từ chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ, tự phát chuyển sang chăn nuôi tập trung với quy mô lớn. Năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng, cho lợi nhuận ngày càng nhiều.

Số lượng trang trại, gia trại chăn nuôi gia cầm cũng tăng trưởng mạnh. Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, hiện trên cả nước có khoảng 11.000 trang trại chăn nuôi gia cầm. Vùng có nhiều trang trại nhất là đồng bằng sông Hồng, chiếm đến 49,19%, tiếp đến là vùng Đông Nam Bộ chiếm 18,21%, vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,55%, vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 8,45%, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 7,67%, thấp nhất là khu vực Tây Nguyên chỉ chiếm gần 5%. Các giống gà lông màu đang được nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng và phát triển bởi cho hiệu quả kinh tế cao với giá bán sản phẩm thường gấp đôi so với gà công nghiệp.

5 Việt Nam đã nhập một số giống gà như gà Sasso nhập năm 1996 từ Pháp, gà Kabir nhập năm 1997 từ Israel, gà Tam Hoàng Jiangcun, Tam Hoàng 822 và gà Lương Phượng từ Trung Quốc để nuôi với kết quả tương đối khả quan (Bảng 1. Gà lông màu có thịt thơm ngon, ít dịch bệnh, có thể tận dụng được các loại phụ phẩm nông nghiệp để nuôi thả. Gà lông màu có thịt dai như gà ta, hợp với thị hiếu của người Việt nên tiêu thụ tốt và ít bị cạnh tranh với gà ngoại nhập như gà công nghiệp. Những giống gà lông màu nhập vào Việt Nam Giống gà nhập vào Năm đầu Tình trạng hiện Nước cung cấp Việt Nam tiên nhập nay Lương Phượng Trung Quốc 1997 Phát triển mạnh ISA-JA 57 Pháp 1997 Phát triển Kabir Israel 1997 Phát triển Sasso (SA 31) Pháp 1998 Phát triển ISA Color Pháp 1999 Phát triển Gà Sasso Hungari 2002 Phát triển FAO (2020) Trong số các giống gà lông màu được nuôi tại Việt Nam (Bảng 1.2) thì năng suất giống Lương Phượng so với các giống còn lại là lựa chọn số một vì thời gian nuôi ngắn, tiêu tốn thức ăn cho để tăng 1 kg khối lượng thấp, tỷ lệ quày thịt khá cao, giá cả hợp lý và chất lượng thịt đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng, đặc biệt là trong miền Nam.

Với những lợi thế đó, gà Lương Phượng là giống gà mà chúng ta cần nghiên cứu và phát triển phù hợp với điều kiện chăn nuôi và khí hậu ở Việt Nam để đem lại hiệu quả kinh tế và cạnh tranh trên thị trường. 6 Giống gà Lương Phượng Gà Lương Phượng hay Lương Phượng Hoa có xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng. Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc lai tạo sau hơn 10 năm nghiên cứu. Họ đã sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài.

Theo Nguyễn Duy Hoan (1998), gà Lương Phượng là kết quả lai tạo thành công giữa giống gà nội của Trung Quốc với giống nhập nội. Năng suất của một số giống gà được nuôi tại Việt Nam Giống gà Thời gian Khối lượng cơ Tiêu tốn thức ăn (kg nuôi (tháng) thể (kg/con) thức ăn/kg tăng trọng) Gà Ri, gà Mèo 5-7 1,2 - 1,6 6-8 Gà Mía 5-7 1,6 - 2,0 5-7 Gà Hồ, Gà Đông Tảo 5-7 2,3 - 2,8 6-8 Gà Minh Dư 3 - 3,5 2,2 - 2,4 2,7 - 2,9 Cao Khanh Gà Lương Phượng 2 - 2,5 1,5 - 1,7 2,2 - 2,4 Gà Tam Hoàng 2 - 2,5 1,8 - 2,2 2,2 - 2,5 Gà Sasso 3 - 3,5 2,1 - 2,3 3,1 - 3,5 (FAO, 2020) Gà Lương Phượng có hình dáng bề ngoài gần giống với gà Ri của nước ta (Hình 1. Lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa, đen đốm hoa. Mào, yếm, mắt và tích tai đều có màu đỏ.

Gà trống mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi cong, chân cao vừa phải. Gà mái nhỏ thân hình chắc, chân thấp. Da gà Lương Phượng có màu vàng, thịt mịn và thơm ngon. Gà trống ở độ tuổi trưởng thành lúc 25 tuần, có khối lượng cơ thể là 2700 g.

Gà bắt đầu đẻ ở 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng 66 tuần tuổi đạt 177 quả trứng/năm, sản xuất khoảng 130 gà con 1 ngày tuổi. Gà nuôi thịt đến 65 ngày tuổi đạt từ 1500 - 1600 g/con. Tiêu tốn thức ăn là 2,4 - 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nuôi sống đạt trên 95% (Phùng Đức Tiến và Nguyễn Duy Điều, 2013). Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi công nghiệp và nuôi thả vườn.

Gà Lương Phượng trống (trái) và mái (phải).1 Sự thay đổi và phát triển túi lòng đỏ Túi lòng đỏ là một trong những cơ quan phôi thai tạm thời sẽ ngừng hoạt động khi gia cầm nở. Trong giai đoạn ấp trứng, túi lòng đỏ phát triển rất nhanh từ thể gấp trong ngày thứ hai và ngày thứ ba; sau đó túi lòng đỏ hình thành một lớp mỏng tế bào bao bọc lòng đỏ trứng vào ngày thứ 6; ngày thứ 14 các mạch máu hình thành trên khắp túi lòng đỏ. Bề mặt bên trong của túi lòng đỏ hình thành các nếp gấp để tăng khả năng tái hấp thụ lòng đỏ. Vòng tuần hoàn máu bắt đầu trong túi lòng đỏ vào khoảng 45 - 49 giờ sau khi bắt đầu ấp và hệ thống này phát triển rất nhanh.

Túi lòng đỏ nhanh chóng trở thành một màng bao bọc ngoài phôi, được kéo từ khoang trứng đến bụng gà như một phần mở rộng của ruột. Màng phôi có thể tiết ra các enzym tiêu hóa lòng đỏ và tạo điều kiện cho sự hấp thụ dưỡng chất (Moreng và Avens, 1985). Khi phôi phát triển, túi lòng đỏ được sử dụng để cung cấp năng lượng và kích thước của nó sẽ giảm dần. Điều này có nghĩa là dưỡng chất trong túi lòng đỏ được chuyển hóa vào trong phôi và phôi phát triển càng nhanh thì khối lượng túi lòng đỏ còn lại càng ít sau khi gia cầm nở.

Tùy thuộc vào điều kiện ấp mà gà con 1 ngày tuổi có khối lượng túi lòng đỏ từ 2 - 3 g cho đến 12 - 13 g. Khoảng cách 10 g này là rất lớn nếu chúng ta so sánh với khối lượng của gà con và đặc biệt là so sánh với khối lượng túi lòng đỏ lúc đầu. Ban đầu túi lòng đỏ có khối lượng từ 20 - 25 g, sự khác biệt 10 g có nghĩa là một số gà nở đã sử dụng gấp đôi lượng lòng đỏ so với những con khác. 8 Trước khi nở, hệ thống túi lòng đỏ được đưa vào trong cơ thể để sau khi nở gia cầm con tiếp tục tiêu hóa nó (Christensen, 2009), khối lượng túi lòng đỏ chiếm khoảng 16% khối lượng gà (Chamblee và ctv, 1992).

Theo Fan và ctv (1997), 60% năng lượng tổng số của gia cầm con được sử dụng cho sự phát triển và trưởng thành của các mô ruột trong vài ngày đầu sau khi nở. Hàm lượng protein và chất béo trong túi lòng đỏ cũng biến động trong quá trình ấp. Sự biến động này cũng tuỳ thuộc vào tuổi của gà mái mẹ. Theo Yadgary và ctv (2010), hàm lượng protein của nhóm gà 50 tuần tuổi đẻ cao hơn nhóm gà 30 tuần tuổi đẻ từ 0,8 - 1,2 g trong toàn giai đoạn ấp.

Lượng protein trong túi lòng đỏ của nhóm gà đẻ 50 và 30 tuần tuổi đều tăng lần lượt là 0,7 và 0,4 g ở giai đoạn ấp từ 17 đến 21 ngày. Sự thay đổi hàm lượng chất béo trong quá trình ấp không giống như sự thay đổi của hàm lượng protein. Mặc dù hàm lượng chất béo trong túi lòng đỏ của nhóm gà 50 tuần tuổi cao hơn nhóm gà 30 tuần tuổi khoảng 0,7 g ở giai đoạn ấp từ 17 đến 21 ngày, nhưng hàm lượng chất béo trong túi lòng đỏ ở cả 2 nhóm đều giảm khoảng 3 g trong giai đoạn ấp từ 13 đến 21 ngày (Yadgary và ctv, 2010). Điều này cho thấy phôi sử dụng chất béo như nguồn năng lượng cho sự phát triển của nó và sự tăng protein trong túi lòng đỏ ở cuối giai đoạn ấp có lẽ liên quan đến việc tích lũy kháng thể bảo vệ gà con sau khi nở.

Các con đường sử dụng túi lòng đỏ ở gà Sau khi gà nở, các thành phần của lòng đỏ gia cầm được kích thích sử dụng bởi hai con đường khác nhau (Noy và Sklan, 1998a). Con đường đầu tiên là sự hấp thu xảy ra ở các biểu mô lót noãn hoàng để vận chuyển chất béo vào trong máu thông qua quá trình nhập bào và đây được xem là con đường hấp thu hiệu quả nhất (Esteban và ctv, 1990). Con đường thứ hai là lòng đỏ được sử dụng thông qua ruột. Ở đó, sự nhu động ngược vận chuyển các chất béo đến tá tràng và không tràng để phân giải và hấp thu.

Ở gà con mới nở, dextran blue được tiêm vào lòng đỏ đã di chuyển theo nhiều xung động không thường xuyên đi vào ruột (Noy và ctv, 1996). Sự vận chuyển các chất được đánh dấu từ lòng đỏ vào trong ruột được quan sát thấy cho đến 72 giờ sau khi nở và chất đánh đấu được tìm thấy ở gần ruột non và dạ dày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ