CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên là 5. [3] Huyện Cẩm Mỹ thuộc phía Đông Nam của tỉnh Đồng Nai: Phía Đông giáp huyện Xuân Lộc, phía Bắc giáp thị xã Long Khánh và huyện Xuân Lộc, phía Tây giáp huyện Thống Nhất và huyện Long Thành, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Diện tích tự nhiên toàn huyện là 46.855 ha, chiếm 7,9% diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng Nai. Huyện Cẩm Mỹ có 13 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: xã Xuân Quế, xã Sông Nhạn, xã Xuân Đường, xã Thừa Đức, xã Nhân Nghĩa, xã Long Giao, xã Xuân Mỹ, xã Xuân Bảo, xã Bảo Bình, xã Xuân Đông, xã Xuân Tây, xã Sông Ray và xã Lâm San (xem hình 1.1: Bản đồ địa giới hành chính huyện Cẩm Mỹ [12] 4 Sông Ray bắt nguồn từ xã Hàng Gòn thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai chảy qua huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu) rồi đổ ra biển Đông tại cửa Bà Đáp giữa 2 huyện Xuyên Mộc và Long Đất với chiều dài 101 km và diện tích lưu vực 1.250 km2; riêng phần chảy qua tỉnh Đồng Nai có diện tích lưu vực 545,07 km2. Đây là con sông có nguồn nước khá dồi dào. Sông Ray bao gồm nhiều nhánh sông suối lớn nhỏ chảy vào, nhưng phân bố không đều trên lưu vực.
Phía bờ hữu và một phần hạ lưu bờ tả kể từ sau hợp lưu suối Giàu có nhiều sông suối và phân bố khá đều. Đoạn trung lưu phía bờ tả có rất ít các suối và thường nhỏ. Các nhánh chính ở phần thượng lưu gồm suối Gia Liêu, suối Mor Cuom, suối Cát, suối Gia Man. Ở phần trung lưu có các nhánh suối Gia Nách, suối Vọng, suối Sách, suối Lúc, suối Lê, suối Tân Ba, suối Giàu, suối Bà Lú, suối Trong.2: Vị trí và bản đồ lưu vực hồ Suối Vọng Hồ Suối Vọng nằm trên suối Vọng thuộc trung lưu sông Ray, giáp ranh giữa xã Xuân Bảo và xã Bảo Bình (xem hình 1.
Địa hình 5 Nhìn chung, địa hình của tỉnh Đồng Nai tương đối bằng phẳng, có xu thế dốc từ Bắc xuống Nam; 78% diện tích của tỉnh có độ dốc nhỏ hơn 30, 16% diện tích có độ dốc từ 30 – 80. Khoảng 6% diện tích có độ dốc trên 80.[3] Địa hình của huyện Cẩm Mỹ có 03 dạng địa hành là: Địa hình núi, đồi thoải lượn sóng và các dải đất tương đối bằng ven suối. - Địa hình núi: Phân bố rải rác thành các ngọn núi độc lập có độ dốc lớn (núi Hàng Gòn, Cam Tiên ở xã Long Giao, chiếm khoảng 2% tổng diện tích toàn huyện). - Địa hình đồi thoải lượn sóng: Là dạng địa hình chính, hiện chiếm khoảng 80% tổng diện tích toàn huyện.
Độ dốc phổ biến từ 3 0 đến 8 0. - Địa hình bằng, ven suối: Phân bổ trên các dải dài ven Sông Ray, chiếm khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, độ dốc chủ yếu là cấp I (từ 0 - 30 ) gần nguồn nước mặt, mực nước ngầm, một số khu vực đất thấp thường bị ngập vào các tháng mưa lớn. Đặc điểm thổ nhưỡng Đồng Nai có tài nguyên đất khá đa dạng, có gần đủ các loại đất của Việt Nam. Vùng đồng bằng có: Đất cát, phù sa, mặn, phèn và vùng đồi núi có các loại đất đỏ, đen, xám.
Trên địa bàn huyện Cẩm Mỹ có 4 nhóm đất. Trong đó, nhóm đất tầng mỏng và nhóm đất đá bọt có diện tích không đáng kể, chủ yếu ở các ngọn đồi, núi và những nơi có thảm thực vật thưa thớt. Nhóm đất đỏ hình thành trên mẫu chất bazan là nhóm đất điển hình, có diện tích lớn nhất, kế đó là nhóm đất đen. Cả 2 nhóm đất này đều có tầng đất dày thành phần cơ giới nặng.
Đặc điểm khí hậu – khí tượng Lưu vực hồ Suối Vọng nằm trong phạm vi của trạm khí tượng Xuân Lộc. Huyện Cẩm Mỹ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với những đặc trưng như sau [12]: a) Đặc điểm mưa Huyện Cẩm Mỹ có lượng mưa lớn, trung bình từ 1. Mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào khoảng cuối tháng XI. Mùa khô 6 thường bắt đầu từ tháng XII đến tháng IV năm sau.
Hạn chế rõ nét nhất trong chế độ mưa ở đây là thường có những đợt hạn ngắn vào đầu vụ Hè Thu, mưa nhiều, mưa to vào thời kỳ từ tháng VII đến tháng IX. Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm của các trạm xung quanh lưu vực được trình bày trong bảng 1.1: Tổng lượng mưa trung bình nhiều năm (thời đoạn 1978 – 2007) Đơn vị: mm Tổng lượng Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII mưa năm Long Thành 9,8 6,9 13,9 57,5 189,0 274,0 303,7 300,2 286,1 284,9 119,5 43,0 1.067 Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam [17] b) Bốc hơi Bốc hơi giữa các vùng trong lưu vực chênh lệch không nhiều, vùng đồi núi lượng bốc hơi nhỏ và vùng thấp lượng bốc hơi lớn hơn. Lượng bốc hơi giữa các tháng trong năm có sự dao động mạnh. Do có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, lượng bốc hơi trên lưu vực nhìn chung là khá lớn, đạt trên 1.
Hàng tháng, lượng bốc hơi đạt từ 80 - 160 mm/tháng trong mùa khô và giảm còn 55 - 93 mm/tháng vào mùa mưa.2: Lượng bốc hơi tháng trên ống Piche trạm Xuân Lộc (thời đoạn 1978 – 2015) Đơn vị: mm Tổng lượng Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII bốc hơi năm Xuân Lộc 108,2 127,6 157,2 135,4 93,3 69,5 65,9 66,5 56,3 55,8 65,0 83,2 1.084 Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam [17] c) Độ ẩm không khí Độ ẩm trung bình năm trên lưu vực đạt khoảng 82% và phân bố khá đều trên toàn lưu vực. Trong năm, mùa mưa có độ ẩm cao hơn nhiều so với mùa khô (82 - 89% và 72 - 75%).3: Độ ẩm không khí lớn nhất, nhỏ nhất và trung bình (thời đoạn 1978 – 2015) Đơn vị: % Bình Trạm Đặc trưng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII quân năm Max 99 100 99 99 99 100 99 99 99 100 99 100 100 Xuân Min 31 21 25 28 32 42 52 51 51 48 39 34 21 Lộc BQ 76 73 72 75 82 87 88 88 89 88 84 81 82 Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam [17] d) Chế độ nhiệt Lưu vực có nguồn năng lượng bức xạ dồi dào (trung bình 154 - 158 Kcal/cm2. Nhiệt độ trung bình năm trên lưu vực khoảng 26oC. Nhiệt độ trung bình tháng biến thiên ít, tháng có nhiệt độ cao nhất và thấp nhất chênh nhau 4 oC.
Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm không quá 10oC, mùa khô nhiệt độ dao động nhiều hơn mùa mưa. Hàng năm, nhiệt độ thấp nhất rơi vào các tháng XII - I và nhiệt độ cao nhất thường rơi vào các tháng IV - V.[12] Thống kê các đặc trưng nhiệt độ tại trạm Xuân Lộc trong thời đoạn từ năm 1978 đến năm 2015 được đưa ra ở bảng 1.4 sau đây: Bảng 1.4: Nhiệt độ không khí lớn nhất, nhỏ nhất và trung bình trạm Xuân Lộc Đơn vị: 0C Tháng Bình quân Vị trí I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII năm Đặc trưng Max 36,5 36,8 38,1 38,6 38,0 35,7 34,7 34,2 34,6 34,2 34,2 35,4 38,6 Xuân Min 12,1 14,9 13,7 19,6 21,4 21 20,4 20,9 20,4 18,5 16,6 14,2 12,1 Lộc BQ 24,4 25,5 26,7 28,0 27,3 26,4 25,9 25,9 25,7 25,7 25,3 24,6 25,9 Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam [17] e) Số giờ nắng Nhìn chung, hàng năm ở lưu vực có số giờ nắng cao, trung bình gần 2.400 giờ, tức 6 - 7 giờ/ngày. Trong năm, số giờ nắng vào mùa khô rất cao, trung bình 210 - 270 giờ/tháng (8 - 9 giờ/ngày), thời gian mùa mưa có số giờ nắng thấp hơn hẳn, trung bình 165 - 190 giờ/tháng (5 - 6 giờ/ngày).5: Tổng số giờ nắng trung bình trạm Xuân Lộc (thời đoạn 1978 – 2015) Đơn vị: Giờ Tổng số giờ Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII nắng năm Xuân 239 225 269 235 207 182 183 169 159 179 188 207 2.442 Lộc Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam [12] f) Gió Lưu vực hồ Suối Vọng nằm trong khu vực vừa chịu ảnh hưởng của hoàn lưu tín phong đặc trưng cho đới nội chí tuyến, lại vừa chịu sự chi phối ưu thế của hoàn lưu gió mùa khu vực Đông Nam bộ. Mùa Đông, chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Đông - Bắc ứng với không khí đã trở thành nhiệt đới hóa tương đối ổn định, một mùa đông ấm áp và khô hạn.
Mùa hạ, khu vực lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai luồng gió mùa Tây - Nam, từ vịnh Bengan vào đầu mùa và từ Nam Thái Bình Dương vào giữa và cuối mùa. Tốc độ gió bình quân nhiều năm (không tính hướng) đạt 1,5 m/s, biến đổi trong khoảng từ 1,1-1,9 m/s.6: Tốc độ gió trung bình trạm Xuân Lộc (thời đoạn 1978 – 2015) Đơn vị: m/s Tháng Bình quân I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Trạm năm Xuân Lộc 1,3 1,6 1,9 1,8 1,5 1,5 1,7 1,6 1,3 1,2 1,1 1,2 1,5 Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam [17] 1. Đặc điểm thủy văn a) Nguồn nước mặt Phần lớn các sông suối ở huyện Cẩm Mỹ đều ngắn và dốc nên khả năng giữ nước kém, nghèo, kiệt vào mùa khô. Việc xây dựng các hồ chứa kết hợp với chuyển tải nước từ ngoài vùng vào là rất cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội mà đặc biệt là cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp của huyện, với hệ thống sông suối chính như: - Sông Ray: Bắt nguồn từ khu vực phía Nam và Tây Nam núi Chứa Chan.
Diện tích lưu vực trong phạm vi huyện Cẩm Mỹ khoảng 300 km2 với các nhánh 9 suối chính như: Suối Gia Hoét, suối Tầm Bò, Suối Trung, Suối Thề , Suối Vọng,… Chiều dài sông chính là 60 km. Đoạn chảy qua huyện Cẩm Mỹ dài từ 20 – 25 km. Lưu lượng trung bình 10,6 m 2 /s. Ngoại trừ dòng chính có nước quanh năm, đại bộ phận các nhánh suối đều cạn kiệt vào cuối mùa khô.
Trên hệ thống Sông Ray đã xây dựng được các hồ chứa nước như: hồ Suối Vọng và hồ Suối Đôi. Các hồ này đã có tác dụng tốt trong việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.