CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE LY LUAN VE DIEU KIEN PHAT SINH TRACH NHIEM BOI THUONG THIET HAI NGOAI HOP DONG 1. Khái quát chung về trách nhiệm dân sự 1. Khái niệm về trách nhiệm dân sự Để có thể đưa ra khái niệm “trách nhiệm dân sự”, trước hết cần xác định được khái niệm về các thuật ngữ: “trách nhiệm”, “trách nhiệm pháp lý” và “dân sự”. Thứ: nhất, “trách nhiệm” là một thuật ngữ thông dụng, phổ biến trong đời sống xã hội, tuy nhiên thuật ngữ có thẻ có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “trách nhiệm” là “phân việc được giao cho hoặc được coi như giao cho, phải đảm bảo làm tròn bồn phận, nếu kết quả không tốt thì phải gánh một phân hậu qua.” Trong lĩnh vực chính trị, đạo đức, “trách nhiệm” được hiểu là bồn phận, vai trò. Nó mang hàm ý tích cực bắt nguồn từ sự nhận thức của con người về vai trò, vị trí của một chủ thể đối với một đối tượng cụ thé trong xã hội như trách nhiệm đối với tập thể, trách nhiệm đối với cha mẹ, trách nhiệm đối với môi trường. Trong lĩnh vực pháp lý, “trách nhiệm” có thể có hai cách hiéu: Thứ nhất, “trách nhiệm” là nghĩa vụ, tức là những việc mà pháp luật quy định phải làm. Một chủ thể có trách nhiệm tức là phải thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một công việc nào đó theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, “trách nhiệm” là hậu quả bat lợi hoặc sự trừng phạt khi một chủ thé không làm tròn bon phận, nghĩa vụ của mình. Theo đó, trách nhiệm là hậu quả pháp lý bat loi ma pháp luật buộc chủ thé phải gánh chịu vì những việc đã làm. Nó thể hiện thái độ, phản ứng của nhà nước đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật gây ra hậu quả xấu cho xã hội.” Tóm lại, “trách nhiệm” mang cả hàm ý tích cực và tiêu cực, vừa được hiểu là nghĩa vụ, bổn phận nhưng cũng có thể hiểu là hậu quả bất lợi hay sự trừng phạt. Thứ: hai, “trách nhiệm pháp lý” là khái niệm cơ bản trong khoa học pháp lý, được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Trách nhiệm pháp lý, một mặt, thê hiện chủ thể phải thực hiện một yêu cầu nào đó của pháp luật. Mặt khác, trách nhiệm pháp lý ! Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. ? Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 6 là sự bắt buộc phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi khi chủ thể đã vi phạm pháp luật.
Theo Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, “trách nhiệm pháp lý” là “một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật. ”? Đứng trước một tình huống nào đó, mỗi người có những hành vi, cách xử sự khác nhau. Mỗi hành vi, cách xử sự thể hiện sự suy xét (lí trí) và quyết định (ý chí) của họ, nghĩa là họ có đủ khả năng và nhận thức để lựa chọn các cách xử sự khác nhau trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định. Pháp luật đã đưa ra trước những cách xử sự mà chủ thể chỉ được phép lựa chọn khi ở vào hoàn cảnh điều kiện đó.
Nếu chủ thể lựa chọn cách xử sự trái pháp luật mà đang hoàn toàn có thể xử sự phù hợp thì họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm của mình. Như vậy, thuật ngữ “trách nhiệm pháp lý” thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật, qua đó giúp bảo vệ trật tự xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể hoặc của chính nhà nước thông qua việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Theo quan điểm truyền thống, tương ứng với bốn loại vi phạm pháp luật là bốn loại trách nhiệm pháp lý: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỉ luật và TNDS. Một hành vi vi phạm pháp luật có thể đồng thời xâm phạm đến một hoặc nhiều khách thé va vi vậy chủ thể có thể phải gánh chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm pháp lý khác nhau.
Tuy nhiên, nếu chủ thể đã gánh chịu trách nhiệm hình sự thì không phải chịu trách nhiệm hành chính nữa và ngược lại, vì đây đều là các loại trách nhiệm của chủ thể vi phạm pháp luật trước nhà nước. Thứ: ba, thuật ngữ “dân sự” chỉ các quan hệ dân sự. Các quan hệ dân sự có các đặc trưng là: các chủ thê bình đăng về địa vị pháp lý, có sự tự do về ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. Các quan hệ dân sự phát sinh trong đời sống hàng ngày, chủ yêu phục vụ nhu cầu của các chủ thể, đảm bảo nhu cầu thiết yếu cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh, giao lưu các lợi ích với nhau.
Tóm lại, TNDS có thể được hiều là một loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan có thâm quyền áp dụng đối với các chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), tlđd, tr. cụ thể là hành vi vi phạm pháp luật dân sự. TNDS đã được quy định trong pháp luật Việt Nam từ khá sớm trong các bộ luật cổ như Bộ Luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long với các nguyên tắc cơ bản như người nào gây ra thiệt hại cho người khác hoặc vi phạm nghĩa vụ sẽ bị trừng phạt bằng các hình thức như bắt buộc bồi thường bằng tài sản. Tuy nhiên, TNDS trong giai đoạn phong kiến chưa là một chế định độc lập mà các quy định chỉ mang tính manh nha và chưa tách bạch rõ ràng giữa TNDS và các chế tài hình sự khác.
Cho đến nay, TNDS đã phát triển và trở thành một chế định độc lập trong pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và BLDS năm 2015 nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật chưa đưa ra một khái niệm cụ thể cho thuật ngữ TNDS. Theo Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam Tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, TNDS là “hậu quả pháp lý bắt lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ phải gảnh chịu khi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đây đủ nghĩa vụ, nhằm bảo đảm quyên lợi của bên có quyên và bù đắp những tổn thất mà người có quyên phải gánh chịu. "° Đây là cách hiểu theo nghĩa hẹp bởi các chủ thể bị ràng buộc bởi thoả thuận về quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.
Do đó, TNDS cần được hiểu theo nghĩa rộng, mang tính khái quát, không chỉ đối với các chủ thể có sự ràng buộc với nhau về hợp đồng mà còn cả trường hợp các chủ thể trước đó không có sự thoả thuận về quyền và nghĩa vụ. Theo Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp, TNDS được hiểu là “ách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tồn thất vật chất và tỉnh than cho người bị thiệt hại "Š hay “những hậu quả bắt lợi mà chủ thể pháp luật phải gánh chịu do pháp luật quy định vì hành vì vi phạm pháp luật của mình (hoặc của người mà mình bảo lãnh hay giám hộ). "5 Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, TNDS là các biện pháp cưỡng chế hay hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm. Điều này có nghĩa là Nhà nước đã có phản ứng trước các hành vi vi phạm pháp luật, gây ra hậu quả xấu, qua đó giúp tạo điều kiện giúp xã hội ngày càng phát triển tích cực, đồng thời tuyên truyền, giáo dục các cá nhân, tổ chức có hành vi xử sự đúng đắn, tuân thủ pháp luật.
# Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự Tập !I,NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. Š Bộ Tư pháp- Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. ® Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), tlđd, tr. Đặc điểm của trách nhiệm dân sự Là một loại trách nhiệm pháp lý, TNDS cũng có các đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung, đó là: ~ TNDS là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm một thoả thuận có hiệu lực giữa các bên.
Những hành vi tuy có thể gây ra thiệt hại nhưng nếu không bị coi là vi phạm, chăng hạn hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng không làm phát sinh TNDS; - TNDS thể hiện thái độ, sự phản ứng của nhà nước đối với chủ thé đã thực hiện hành vi vi phạm. Nhà nước với tư cách là người duy trì và bảo vệ trật tự xã hội phải có biện pháp để bảo vệ quyên lợi của chủ thể bị xâm phạm; - TNDS mang tính bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu thông qua các biện pháp chế tài được quy định trong các văn bản pháp luật; - TNDS là một trong những phương thức có tính cưỡng chế của nhà nước; nhà nước bằng quyên lực của mình, bắt buộc chủ thể phải thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh trách nhiệm pháp lý của mình.” Bên cạnh các đặc điểm chung đã nêu, do có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh khác biệt so với các ngành luật khác cho nên TNDS trong pháp luật dân sự có các đặc trưng riêng giúp phân biệt với các loại trách nhiệm pháp lý khác như sau: - TNDS luôn gắn liền với vi phạm pháp luật dân sự. Vĩ phạm dân sự là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm phạm đến quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân gắn với tài sản, quan hệ nhân thân phi tài sản. - TNDS là trách nhiệm vật chất, mang tính tài sản.
Trên thực tế, lợi ích mà các bên hướng tới khi tham gia quan hệ dân sự có thể là lợi ích vật chất hoặc/và lợi ích tỉnh thần. Do đó, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại của một bên có thể khiến bên còn lại phải gánh chịu các tốn thất về vật chất hoặc/và tinh thần.