Chương I. Tổng quan về hoạt động ngân hàng ngầm và pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng ngầm Chương II. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động ngân hàng ngầm tại một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Chương III. Nhận diện hoạt động ngân hàng ngầm tại Việt Nam- Thực trạng pháp luật điều chỉnh và một số khuyến nghị nhăm nâng cao hiệu quả hoạt động quản ly từ kinh nghiệm thế giới.
9 NỘI DUNG CHUONG I. TONG QUAN VE HOAT ĐỘNG NGAN HÀNG NGAM VA PHAP LUAT DIEU CHỈNH HOAT DONG NGAN HANG NGAM 1. Những van đề cơ ban về hoạt động ngân hang ngầm 1. Khái niệm hoạt động ngân hàng ngâm Thuật ngữ “Ngân hàng ngâm ” (Shadow banking) lần đầu tiên được phát biểu bởi ông Paul McCulley- giám đốc đầu tư PIMCO (Quy đầu tư trái phiếu hang đầu thé giới) tại diễn đàn kinh tế của Ngân hang Trung ương Hoa Kỳ, tổ chức tại Kackhole Wyoming năm 2007.
Theo McCulley: “Ngân hàng ngâm chủ yếu đề cập đến những định chế tài chính phi ngân hàng ở Mỹ có sử dụng sự dịch chuyển kỳ han (Maturity transformation). Trên thực tế, trong khi các ngân hàng thương mại thực hiện việc chuyển đổi kỳ hạn bằng việc sử dụng tiễn gửi ngăn hạn nhằm tài trợ các khoản vay dai hạn thì ngân hàng ngâm cũng thực hiện một cách tương tự, thông qua huy động các quỹ ngắn hạn trên thị trường tiên tệ và sử dụng đề mua tài sản có kỳ hạn. Nhưng do không phải tuân thủ quy định theo sự quản lý như đối với ngân hàng truyền thong, ngân hàng ngâm không thể thực hiện các khoản vay khẩn cấp từ FED>””4 Theo Ngân hang Trung ương cua Ireland: “Ngdn hàng ngâm là một thuật ngữ được sử dụng nhằm mô tả các hoạt động giống như ngân hàng (chủ yếu là cho vay) diễn ra bên ngoài phạm vi ngân hàng truyền thống. Hiện nay, trên thị trường quốc tế, nó vẫn được xem như là trung gian tài chính phi ngân hàng.
Ngân hàng ngâm cũng có chức năng cho vay tương tự ngân hàng truyền thong. Tuy nhiên, cách thức quy định giữa các bên lại có nhiễu điểm khác biệt. "Š Bên cạnh đó, Uy ban ổn định tài chính (Financial Stability Board- FSB) cũng đưa ra định nghĩa chung về hoạt động ngân hàng ngầm như sau: “Ngân hàng ngâm là hệ thong trung gian tín dụng bao gồm các tổ chức cùng các hoạt động nằm ngoài hệ thống ngân hàng thông thường) ©. Ngoài ra, dé mang đến một cái nhìn mới lạ va dé hiểu hon đối với thuật ngữ “Ngdn hàng ngầm ”, Laura E.Kordes đã có một một cách vi von tương đối đặc biệt: “Nếu như một thir trông nhu một con vịt, kêu nhự một con vịt, hoạt động nhự một con vit thì no sẽ là một con vịt hoặc được coi là một con vịt.
Nhưng vậy còn một tổ chức nhìn giống một ngân hàng, hoạt 3 Federal Reserve System: Cục Dự trữ Liên bang 4 Laura E.Kordes (2013), “What is Shadow banking ”, Finance & Development, Vol. ŠCentral Bank of Ireland, Explainer - What is shadow banking?.ie/consumer-hub/explainers/what-is-shadow-banking truy cap 10/03/2020 5 FSB (2018), Global shadow banking monitoring report 2017. 10 động như một ngân hàng thì sao? Thường thì néu nó không phải là ngân hàng — Nó là ngân hàng ngâm ”7. Tựu chung lại, có rất nhiều quan điểm cũng như là góc nhìn về định nghĩa, bản chất của ngân hàng ngầm.
Thông qua việc nghiên cứu các quan điểm trên có thể đi đến khái quát về định nghĩa của hoạt động ngân hàng ngầm như sau: Hoat động ngân hàng ngắm là hình thức tín dung phi truyền thống được thực hiện bởi các định chế tài chính hoặc tổ chức, cá nhân, theo đó các hoạt động huy động vốn và cho vay tương tự ngân hàng truyền thong được tiễn hành nhưng không chịu sự diéu tiết và kiểm soát chặt chẽ của các quy định an toàn tài chính do NHTW dat ra. Nghiên cứu về lich sự hình thành của ngân hàng ngầm, có thé thay rằng tuy thuật ngữ “Ngân hàng ngầm '' được phát biểu lần đầu vào năm 2007 bởi Paul McculleyŠ nhưng trên thực tế, rất nhiều nhà phân tích trên thế giới cho răng nó được bắt nguồn từ thuật ngữ “Ngdn hàng song hành” (Parallel banking system) xuất hiện trong tác pham The parallel banking system của đồng tác giả Jane W. D'Arista và Tom Schlesinger’, xuất bản năm 1993. Và mặc dù thuật ngữ “Ngdn hàng ngâm” chỉ mới được biết đến rộng rãi ké từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (Global Financial Crisis).
Song, theo nhiều chuyên gia tài chính, ít nhất từ cuối thế kỷ XIX, ngân hàng ngầm đã bắt đầu xuất hiện tại Anh khi ngân hàng Anh bắt đầu triển khai chương trình bình ôn hối phiếu tư nhân bằng cách bảo lãnh các nhà môi giới hối phiếu. Các nhà môi giới này không phải là ngân hàng, nhưng họ đã thực hiện việc quy đổi hối phiếu thành tiền- một hoạt động mà ngày nay chúng ta vẫn xem là dịch vụ của các ngân hàng ngầm. Đặc điểm của hoạt động ngân hàng ngầm Hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới, hệ thống các ngân hàng ngầm vẫn đang tồn tại và song hành cùng với ngân hàng truyền thống. Về cơ bản, ngân hàng ngầm cũng có những hoạt động tương tự nghiệp vụ của ngân hàng truyền thống như cho vay, huy động vốn.
Chính vì vậy, theo Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ?, hoạt động ngân hàng ngầm trước hết có một số đặc điểm tương tự với hoạt động của NHTM truyền thống như: - Dịch chuyền kỳ han (maturity transformation): lay nguồn tiền ngắn hạn đi đầu tư vào các tài sản dài hạn. - Dịch chuyền thanh khoản (liquidity transformation): đây là khái niệm tương tự như dịch chuyên kỳ hạn, nhưng chỉ tiết hơn là sử dụng các khoản nợ giống như tiền mặt 7 Laura E. ° Zoltan Pozsar, Tobias Adrian, Adam Ashcraft, Hayley Boesky (2012), Federal Reserve Bank of New York Staff Reports — Shadow Banking. II (thanh khoản cao) dé mua các tài sản rất khó bán đi (thanh khoản thấp hơn) như các khoản tín dụng.
- Don bay (leverage): vay mượn thêm tiền dé mua tài sản nhằm khuếch đại lợi nhuận đâu tư tiêm năng. - Chuyén rủi ro tin dung (credit risk transfer): chuyển rủi ro người đi vay bị vỡ nợ từ người cho vay ban đầu sang người khác. Dưới góc độ quản lý, việc đưa ra các tiêu chí nhằm nhận diện được hoạt động của ngân hàng ngam là hết sức quan trọng và cần thiết. Chính vì vậy, FSB đã đưa ra bốn tiêu chí dé nhận diện, bộ tiêu chí này hiện nay cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thé gidi, cu thé: (1) Hoạt động ngân hang ngầm là hoạt động mang ban chat tin dụng: Tương tự các ngân hàng truyền thống, ngân hàng ngầm cũng thực hiện một số hoạt động mang bản chất tín dụng như huy động vốn hay cho vay.
(2) Ngân hàng ngầm có nguồn vốn được huy động một cách phi truyền thống: Trong khi nguồn vốn cho vay trong các ngân hàng truyền thống được huy động chủ yếu băng nguồn tiền gửi từ người dân thì nguồn vốn cho vay trong hoạt động ngân hàng ngầm lại được huy động thông qua phát hành một số loại giấy tờ có giá ngắn hạn như thương phiếu, repo, kinh doanh các sản phẩm chứng khoán hóa. mà không được huy động tiền gửi của người dân do chỉ các tô chức được cấp phép là ngân hàng thì mới được huy động vốn qua các sản phẩm tiền gửi. (3) Các hoạt động của ngân hàng ngầm không được nhận đảm bảo thanh khoản chính thức từ nguồn tài trợ công. Hoạt động của ngân hàng ngầm không được sự hỗ trợ trực tiếp từ khu vực công về van đề thanh khoản và ứng phó với các rủi ro như bảo hiểm hay vay tái cấp vốn, tái chiết khẩu từ ngân hàng trung ương (NHTW) giống như các NHTM truyền thống (4) Ít bị điều tiết bởi NHTW.
Nếu như các NHTM truyền thống năm dưới sự giám sát chặt chẽ của NHTW cùng các tổ chức chính phủ khác và chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, quy định pháp lý thì hiện nay vẫn chưa có một Bộ luật hay văn bản nào điều chỉnh một cách có hệ thống đối với hoạt động của ngân hàng ngầm Qua xem xét các đặc điểm chung và hướng dẫn nhận diện hoạt động ngân hàng ngầm có thê thấy sự đặc trưng của hoạt động ngân hàng ngầm so với hoạt động của NHTM truyền thống được thê hiện rõ ở các khía cạnh sau: 12 Thứ nhất, khác với việc các NHTM truyền thống được hưởng sự đảm bảo trực tiếp và công khai (direct and explicit official enhancement) từ khu vực công '° thì hoạt động của ngân hàng ngầm không được sự hỗ trợ trực tiếp từ khu vực công về vấn đề thanh khoản và ứng phó với các rủi ro như bảo hiểm hay vay tái cấp vốn, tái chiết khấu từ NHTW. Bởi lẽ, các ngân hàng thông thường với vai trò là trung gian tài chính thi luôn tồn tại những rủi ro thanh khoản, thanh toán. Nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tăng cường khả năng tín dụng thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã được thành lập với mục đích bảo vệ một phần hoặc toàn bộ tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. Mặt khác, với vai trò là Người cho vay cuối cùng (lender of last resort) thi NHTW tiễn hành việc cung cấp tiền cho NHTM khi họ không có đủ dự trữ hoặc không có đủ tiền mặt trả cho những khách hàng đến rút tiền ra.
Khi các NHTM thấy mình bị thiếu tài sản có khả năng thanh toán so với mức an toàn, tức không đạt mức dự trữ bắt buộc, họ phải tăng cường khả năng thanh toán. Họ có thể làm việc này bằng cách bán trái phiếu kho bạc cho NHTW, thu hồi vốn cho vay ngắn hạn hay vay chiết khấu tai NHTW''. Như vậy, có thé thay răng “hoạt động của ngân hàng ngâm là hoạt động tin dụng không được hưởng lợi từ các nguôn ho trợ thanh khoản chính thức của tổ chức bảo hiểm tiễn gửi và ngân hàng trung ương”? Thứ hai, xét về phương diện pháp lý, ngân hàng ngầm ít bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật hơn so với hoạt động ngân hàng thông thường. Cu thé, hoạt động của ngân hàng thông thường bị điều chỉnh chặt chẽ bởi hệ thống pháp luật ngân hàng đồng thời nằm dưới sự kiểm soát của NHTW nhằm kiểm soát thị trường tiền tệ.
Trong khi đó, hoạt động ngân hàng ngam- thực hiện bởi các tổ chức tài chính phi ngân hàng, định chế tài chính khác như công ty tài chính (CTTC) , công ty chứng khoán (CTCK), quỹ đầu tư,. lại được điều chỉnh bởi các quy định của nhiều lĩnh vực khác nhau như ngân hàng, chứng khoán, doanh nghiệp,.