Chương 1. Khái quát chung về bảo hiểm tiền gửi – hoạt động bảo hiểm tiền gửi của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện. 4 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI – HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.1 Khái quát chung về bảo hiểm tiền gửi 1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi Hệ thống tài chính – ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế với đặc thù là các tổ chức tài chính kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ đi vay để cho vay lại nên hoạt động ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro thanh khoản.
Trong đó, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao1. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Rủi ro thanh khoản là rủi ro lớn nhất bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến chính ngân hàng gặp rủi ro mà còn ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và có thể dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền mang tính hệ thống của hàng loạt ngân hàng, làm mất lòng tin của người gửi tiền, là nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới2. Ngoài ra, hoạt động ngân hàng còn có thể gặp các rủi ro khác phát sinh từ môi trường hoạt động kinh doanh như khủng hoảng, suy thoái kinh tế.
Hậu quả có thể dẫn tới là hệ thống tài chính quốc gia bị tê liệt, xã hội bất ổn, niềm tin của các nhà đầu tư bị giảm sút3. Để phòng ngừa rủi ro, đảm bảo cho các TCTD hoạt động an toàn hiệu quả, bất kỳ quốc gia nào cũng phải đề ra các chính sách và biện pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. BHTG là một trong những công cụ, chính sách để thực hiện mục tiêu này. BHTG lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ sau những vụ đổ vỡ của hàng loạt ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ở quốc gia này.
Đặc biệt, trong năm 1933 có tới 4000 ngân hàng bị đóng cửa do suy thoái kinh tế4. Ngay sau đó, Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC) được thành lập và đi vào hoạt động 1 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2008), “Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội”, Tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, tr.37 2 Đỗ Quốc Tình, “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi với sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính” http://www.vn/?option=com_content&view=article&id=1652&catid=43&Itemid=90, truy cập ngày 15/5/2016 3 Phùng Văn Hùng (2009), “Bàn thêm về vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng”, Tạp chí ngân hàng, số 11, tr. 44 4 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2008), tlđd (1), tr. 14 5 từ năm 1934 và FDIC đã phát huy được vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền cũng như duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng xảy ra năm 2008 ở Mỹ đã khiến nhiều ngân hàng đứng bên bờ vực phá sản. FDIC được phân công tiếp nhận và xử lý các ngân hàng có vấn đề. Theo đó, FDIC lập ra ngân hàng bắc cầu IndyMac Federal Bank để tiếp nhận các khoản nợ và khôi phục hoạt động của Ngân hàng Indy Mac (một trong 7 ngân hàng lớn của Mỹ về tiết kiệm và cho vay) có nguy cơ phá sản đã cho thấy vai trò của FDIC trong việc bảo vệ người gửi tiền và duy trì sự ổn định của ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế5. Từ sau khi FDIC ra đời cho đến nay đã có hơn 100 quốc gia thành lâp tổ chức BHTG6.
Bên cạnh đó sự ra đời của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) năm 2002 với sự tham gia tích cực của các tổ chức BHTG trên thế giới đã nói lên vai trò quan trọng của tổ chức BHTG thông qua việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ về BHTG như thu phí BHTG, chi trả tiền bảo hiểm, tiếp nhận và xử lý các TCTD mất khả năng thanh toán hoặc phá sản,.từ đó, để bảo vệ người gửi tiền đảm bảo sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Nhận thức được vai trò quan trọng của BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền, duy trì sự ổn định của hệ thống các TCTD, góp phần ổn định kinh tế xã hội nên các quốc gia rất quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động BHTG. Do đó, trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về BHTG ở nhiều góc độ khác nhau: Trên thế giới, các nhà nghiên cứu cũng như pháp luật của một số nước đã đưa ra khái niệm về BHTG như sau: Trong một nghiên cứu của mình về cơ cấu của những hệ thống BHTG ở Châu Á, Jang - Bong Choi - Phó Thống đốc Dịch vụ Giám sát tài chính và là cựu giám đốc Ban nghiên cứu của Tổng công ty BHTG Hàn Quốc đã đưa ra khái niệm về BHTG như sau: “Bảo hiểm tiền gửi là chính sách bảo đảm tất cả hoặc một phần tiền gửi cùng lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng nhận tiền gửi bị mất khả năng thanh toán hay phá sản”7. Khái niệm này khẳng định nghĩa vụ của tổ chức BHTG theo luật định hoặc theo những điều khoản của hợp đồng mà sẽ phải trả khoản tiền bảo hiểm đối với cả tiền gốc có kèm 5 Nguyễn Mạnh Dũng – Đặng Duy Cường (2009), “Kinh nghiệm của bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản và Hoa Kỳ đối phó với khủng hoảng kinh tế và xử lý ngân hàng đổ vỡ”, Tạp chí ngân hàng, số 8, tr.
59 6 Trần Phi Long – Vũ Duy Hào (2015), “Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc giải quyết khủng hoảng tài chính: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí ngân hàng, số 6, tr.B (1999), “Cơ cấu của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi ở Châu Á”, Sự gia tăng những thách thức ở Châu Á: một nghiên cứu về thị trường tài chính, tập 6 6 lãi cho người gửi tiền ở TCTD tham gia BHTG. Khái niệm này đã đưa ra những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện BHTG là chính sách của một quốc gia trong việc đảm bảo thanh toán tiền gốc và lãi cho người gửi tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm là ngân hàng nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán hoặc phá sản. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng định nghĩa về hoạt động BHTG như sau: Luật BHTG Canada quy định: “Bảo hiểm tiền gửi là bảo hiểm cho những tổn thất một phần hoặc toàn bộ tiền gửi8”. Luật BHTG của Đài Loan quy định như sau: “Bảo hiểm tiền gửi là một loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là các loại tiền gửi được bảo hiểm trên lãnh thổ Đài Loan9”.
Theo các quy định này, có thể thấy rằng, BHTG được định nghĩa chung chung, chưa cụ thể. Ngoài việc đưa ra khái niệm chung nhất về BHTG thì Luật BHTG của Đài Loan còn liệt kê thêm các loại tiền gửi được bảo hiểm như: tiền gửi tiết kiệm, tiền ký quỹ,. Ở Việt Nam, tác giả Lê Thị Thu Thuỷ - Giảng viên Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội – Trong bài nghiên cứu về “Mô hình bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế” đăng trên Tạp chí Luật học (12/2007) đã đưa ra khái niệm tương đối toàn diện về BHTG như sau: “Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm, theo đó đảm bảo nghĩa vụ chi trả trong tương lai các khoản tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG khi các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bị buộc giải thể hoặc phá sản”10. Khái niệm này cho thấy BHTG là loại hình bảo hiểm đặc thù trong hoạt động ngân hàng và xác định trách nhiệm của tổ chức BHTG trong việc thanh toán tiền bảo hiểm cho người gửi tiền.
Tuy nhiên, hạn chế của khái niệm này là việc xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm đã không còn phù hợp với những thay đổi của pháp luật hiện hành về BHTG. Dưới góc độ pháp lý, Điều 4 Luật BHTG 2012 quy định về BHTG như sau: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”11. Quy định trong Luật BHTG không chỉ khẳng định cam kết của tổ chức BHTG trong việc trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mà còn xác định việc trả tiền bảo hiểm của BHTG Việt Nam là chi trả có giới hạn. Từ những cách hiểu về BHTG được đưa ra trong các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về BHTG và quy định của pháp luật về BHTG ở Việt Nam và trên thế 8 Đoạn 7 (a) Luật Bảo hiểm tiền gửi Canada năm 2011 9 Điều 12 Luật Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan năm 1985 và được sửa đổi, bổ sung năm 2010 10 Lê Thị Thu Thuỷ (2007), “Mô hình bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí luật học, số 12, tr.