Lời mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán công cụ tài chính phái sinh tại ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán công cụ tài chính phái sinh tại ngân hàng thương mại Việt nam. Chƣơng 3: Hoàn thiện môi trường pháp lý về kế toán CCTCPS tại các ngân hàng thương mại. Kết luận 2 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ Sở LÝ LUậN Về Kế TOÁN CÔNG Cụ TÀI CHÍNH PHÁI SINH.1 Tổng quan về công cụ tài chính phái sinh 1.1 Khái niệm , vai trò của công cụ tài chính phái sinh 1.1 Khái niệm công cụ tài chính phái sinh CCTC phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận (IAS 32).
Theo IAS số 39 – CCTC: Ghi nhận và xác định giá trị, CCTC phái sinh là một CCTC hay một hợp đồng thỏa mãn đồng thời cả ba đặc điểm sau: + Có giá trị thay đổi theo sự thay đổi của các yếu tố trên thị trường như: Lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa, giá chứng khoán… + Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hoặc chỉ yêu cầu đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thị trường. + Được thanh toán vào một ngày trong tương lai.2 Vai trò của công cụ tài chính phái sinh CCTC phái sinh là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia, đây là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, việc hoàn thiện các CCTC phái sinh và phát triển thị trường CCTC phái sinh hiệu quả là thể hiện sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia ở mức độ cao và chiều sâu, chính sự phát triển này sẽ là điều kiện cần để phát triển kinh tế ở tốc độ cao hơn. Xét ở góc độ tổng thể của nền kinh tế: Thị trường công cụ phái sinh đóng góp cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát huy tốt các chức năng của hệ thống tài chính, đó là: + Cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. + Sàng lọc, chuyển giao và phân tán rủi ro.
+ Tăng tính thanh khoản của các CCTC. 3 Luan van Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của DN: DN có thể mua hoặc bán CCTC phái sinh với 2 mục đích: mục đích phòng ngừa rủi ro tài chính và mục đích kinh doanh. Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính: Các lợi ích thu được khi ứng dụng CCTC phái sinh cũng tương tự như DN. Hơn thế nữa, với vai trò của trung gian tài chính, các tổ chức này có thể tăng nguồn thu từ thu phí với tư cách của người môi giới, đặc biệt, khả năng mở rộng, phát triển các mặt hoạt động khác của tổ chức tài chính như huy động vốn, cho vay, dịch vụ thanh toán, tư vấn.
cũng tăng cao và hiệu quả hơn.2 Các loại công cụ tài chính phái sinh 1. Hợp đồng kỳ hạn a. Khái niệm hợp đồng kỳ hạn HĐKH là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa hai bên để mua hoặc bán một số tài sản, nghĩa vụ phải trả hoặc CCTC nhất định vào một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá thoả thuận giữa các bên tại ngày giao dịch. Đặc điểm hợp đồng kỳ hạn HĐKH có những đặc điểm sau: + HĐKH không quy định các bên trong hợp đồng phải mở tài khoản (TK) ký quỹ hay trả bất cứ loại phí nào tại thời điểm khởi đầu hợp đồng, theo đó tài sản cơ sở, thời gian đáo hạn, hình thức thanh toán.
phụ thuộc hoàn toàn vào thoả thuận cụ thể giữa hai bên tham gia hợp đồng. + HĐKH không được trao đổi trên thị trường có tổ chức, đây là thỏa thuận cá nhân giữa hai tổ chức tài chính hoặc giữa một tổ chức tài chính với một khách hàng là DN. Vì không được giao dịch trên thị trường có tổ chức nên loại hợp đồng này không tuân theo bất kỳ tiêu chuẩn nào của thị trường, các bên trong HĐKH phải chịu những rủi ro nhất định do quyền lợi và nghĩa vụ theo hợp đồng không được đảm bảo bởi sàn giao dịch. + Bên mua hợp đồng được coi là có vị thế dài hạn trên hợp đồng và đồng ý mua tài sản vào một ngày cụ thể với mức giá xác định trước.
Bên bán hợp đồng được coi là có vị thế ngắn hạn trên hợp đồng và đồng ý bán một tài sản cụ thể cho người mua vào một ngày xác định trong tương lai với một mức giá được xác định trước. 4 Luan van + HĐKH không được tất toán trước thời điểm đáo hạn hợp đồng, các bên trong HĐKH chỉ phải thanh toán một lần vào ngày đáo hạn hợp đồng. Việc thanh toán HĐKH là thanh toán song phương, có thể được thực hiện bằng cách chuyển giao tài sản cơ sở hoặc thanh toán số tiền chênh lệch giữa giá tại ngày đáo hạn hợp đồng và ngày ký hợp đồng. HĐKH có nhiều loại khác nhau nhưng phổ biến có một số loại sau:Hợp đồng kỳ hạn về tiền tệ, hợp đồng kỳ hạn về lãi suất, Hợp đồng kỳ hạn về hàng hóa.
Hợp đồng tương lai a. Khái niệm hợp đồng tương lai HĐTL là một thoả thuận ràng buộc mang tính pháp lý giữa các bên để mua hoặc bán một số tài sản, nợ phải trả hoặc CCTC nhất định vào một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá niêm yết tại ngày giao dịch, được chuẩn hoá theo quy định và được giao dịch trên sàn giao dịch tập trung (Nguyễn Minh Kiều, 2006). Đặc điểm hợp đồng tương lai HĐTL có những đặc điểm sau (Nguyễn Minh Kiều, 2006): + Tại ngày bắt đầu hợp đồng, các bên tham gia vào HĐTL phải mở TK ký quỹ tại sàn giao dịch hoặc nhà môi giới. Hàng ngày, khi có chênh lệch giữa giá thị trường và giá quy định trong hợp đồng của tài sản cơ sở, một bên tham gia trong hợp đồng phải trả cho sàn giao dịch hoặc nhà môi giới phần chênh lệch đó để sàn giao dịch hoặc nhà môi giới chuyển số tiền này vào TK ký quỹ của bên kia.
Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, các bên phải duy trì số dư TK ký quỹ trên mức tối thiểu được quy định bởi sàn giao dịch và phải nộp thêm tiền vào TK ký quỹ nếu số dư TK ký quỹ thấp hơn mức ký quỹ tối thiểu. + HĐTL được niêm yết công khai và có các đặc điểm kỹ thuật mang tính chuẩn hoá quy định. Giá trị HĐTL được xác định theo giá thị trường hàng ngày trên sàn giao dịch hoặc tại nhà môi giới trung gian. + Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia vào HĐTL được đảm bảo đầy đủ bởi sàn giao dịch hoặc nhà môi giới trung gian.
+ HĐTL có tính thanh khoản cao, rủi ro thấp và được thanh toán bù trừ đa phương bởi sàn giao dịch hoặc nhà môi giới trung gian. Chính vì đặc điểm này nên các bên tham gia trong HĐTL có thể chấm dứt hợp đồng trước thời điểm đáo hạn hợp đồng bằng cách bán một HĐTL cùng loại. 5 Luan van + Tại thời điểm đáo hạn hợp đồng, việc thanh toán có thể được thực hiện bằng cách chuyển giao tài sản cơ sở hoặc thanh toán số tiền chênh lệch giữa giá tại ngày đáo hạn hợp đồng và giá tại ngày ký hợp đồng. + Hợp đồng tương lai bao gồm các loại: Hợp đồng tương lai về tiền tệ, hợp đồng tương lai về lãi suất, hợp đồng tương lai về hàng hóa.3 Hợp đồng quyền chọn a.
Khái niệm hợp đồng quyền chọn HĐQC (Option Contracts) là loại hợp đồng cho phép người nắm giữ nó một quyền (không phải nghĩa vụ) để mua hay bán một tài sản xác định (tài sản cơ sở) với một mức giá xác định vào một khoảng thời gian xác định hoặc điểm thời gian xác định trong tương lai (Nguyễn Minh Kiều, 2008) Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) tài sản cơ sở. Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì người bán quyền buộc phải bán (hay mua) tài sản cơ sở. Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn; thời gian từ khi ký HĐQC đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn; mức giá xác định áp dụng trong ngày đáo hạn gọi là giá thực hiện. Đặc điểm hợp đồng quyền chọn b.
Đặc điểm chung (Nguyễn Minh Kiều, 2008) HĐQC có những đặc điểm sau: + Không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm. + Chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình. + Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực hiện quyền. Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả quyền phí, giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày xác định trong hợp đồng là ngày đáo hạn.
Tương tự như vậy đối với người bán trong HĐQC bán. + Tùy theo từng loại mà HĐQC có thể thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn hoặc đến ngày đáo hạn. + Nếu phân theo loại quyền: Có hai loại HĐQC: 6 Luan van - HĐQC mua: là loại hợp đồng đem đến cho người nắm giữ nó quyền mua tài sản với một mức giá xác định vào một khoảng thời gian xác định hoặc điểm thời gian xác định trong tương lai. - HĐQC bán: là loại hợp đồng đem đến cho người nắm giữ nó quyền bán tài sản với một mức giá xác định vào một khoảng thời gian xác định hoặc điểm thời gian xác định trong tương lai.
Người bán quyền chọn được coi là người có vị thế ngắn hạn trên hợp đồng và phải có nghĩa vụ thực hiện việc bán hay mua tài sản trong HĐQC khi người mua yêu cầu. Người mua quyền chọn được coi là người có vị thế dài hạn trên hợp đồng và có quyền mua hay không mua tài sản cơ sở quy định trong HĐQC (Nguyễn Thị Ngọc Trang, 2011) + Nếu phân theo kiểu hợp đồng, có hai loại HĐQC: - HĐQC kiểu Mỹ: là dạng HĐQC mà người nắm quyền có thể thực hiện mua hoặc bán tại mức giá xác định vào bất kỳ ngày nào trong thời hạn của hợp đồng (kể từ ngày bắt đầu nắm giữ quyền cho đến hết ngày đáo hạn). - HĐQC kiểu châu Âu: là dạng HĐQC mà người nắm giữ quyền có thể thực hiện mua hoặc bán tại mức giá xác định vào ngày đến hạn (ngày thực hiện hay ngày đáo hạn).