Tổng quan về luận án
Công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011–2020. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước đối mặt với áp lực bội chi bình quân 5,5% GDP giai đoạn 2011–2015 và sự quá tải của các thiết chế công trước các khiếm khuyết thị trường như ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội và áp lực an sinh, sự xuất hiện của mô hình Doanh nghiệp xã hội (DNXH) mang tính tất yếu khách quan. Luận án tiến sĩ luật học "Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam" (Mã số: 9380107, Chuyên ngành: Luật Kinh tế) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Diễm Anh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Am Hiểu (Hà Nội, 2022), là công trình tiên phong nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu ở cấp độ tiến sĩ về địa vị pháp lý của DNXH.
Research gap cốt lõi mà luận án giải quyết là khoảng trống giữa sự ghi nhận danh nghĩa của DNXH trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 với sự thiếu vắng một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ về quyền, nghĩa vụ đặc thù, quản trị nội bộ và chính sách ưu đãi tài chính - thuế. Luận án đặt ra và giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu (RQs):
- RQ1: Những vấn đề lý luận nền tảng nào xác lập bản chất, cấu thành và các yếu tố tác động đến địa vị pháp lý của DNXH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?
- RQ2: Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực đến ngày 01/5/2021 bộc lộ những bất cập, mâu thuẫn và nguyên nhân nghẽn mạch nào?
- RQ3: Định hướng và hệ thống giải pháp pháp lý nào mang tính đột phá nhằm tăng cường địa vị pháp lý của DNXH, đảm bảo tính khả thi và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước?
Khung lý thuyết của nghiên cứu tích hợp bốn trụ cột lý thuyết kinh điển: Lý thuyết về doanh nghiệp và kinh doanh, Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh, Lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và Lý thuyết về quản trị doanh nghiệp. Luận án phân tích phạm vi thực tiễn tổ chức và hoạt động của cộng đồng DNXH Việt Nam giai đoạn 2014–2021, trong đó ghi nhận bức tranh thực chứng: 50% DNXH tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, gần 50% hoạt động tại khu vực nông thôn; 40% doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ với doanh thu dưới 1 tỷ đồng, 70% DNXH sử dụng dưới 20 lao động, đồng thời có 30% DNXH vươn ra thị trường quốc gia và 22% tiếp cận thị trường quốc tế. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình là cung cấp luận cứ pháp lý vững chắc cho việc sửa đổi, bổ sung hệ thống luật thực định và thiết lập hành lang pháp lý chuyên biệt cho kinh tế tạo tác động xã hội tại Việt Nam.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế và trong nước cho thấy sự phân hóa rõ rệt trong các dòng học thuyết tiếp cận về doanh nghiệp xã hội và thể chế pháp lý điều chỉnh:
flowchart TD
A["Hệ thống lý thuyết & Tổng quan nghiên cứu"] --> B["Dòng nghiên cứu Đổi mới Xã hội & Doanh nhân"]
A --> C["Dòng nghiên cứu Thể chế & Địa vị Pháp lý"]
B --> B1["David Bornstein 2004: Tinh thần doanh nhân xã hội"]
B --> B2["Gregory Dees 1998: Khắc phục thất bại khu vực công"]
B --> B3["Eggers & Macmillan 2013: Hợp tác công - tư giải quyết nan đề"]
C --> C1["Borzaga & Galera 2006: Thể chế hóa DNXH tại Ý"]
C --> C2["Grenier 2006 & Mswaka 2013: Mô hình CIC tại Anh"]
C --> C3["Việt Nam: Nguyễn Thị Yến 2014, CSIP 2012, CIEM 2012"]
B1 & B2 & B3 & C1 & C2 & C3 --> D["Research Gap: Thiếu khung địa vị pháp lý tích hợp & chế định quản trị riêng biệt"]
D --> E["Luận án TS Nguyễn Thị Diễm Anh 2022: Tăng cường địa vị pháp lý DNXH tại Việt Nam"]
Dòng nghiên cứu quốc tế về khởi nghiệp và vai trò xã hội của doanh nghiệp nhấn mạnh tính đổi mới sáng tạo xã hội:
- David Bornstein (2004) trong "How to change the world: Social entrepreneurs and the power of new ideas" luận giải sự phát triển của tinh thần kinh doanh xã hội toàn cầu như một động lực biến đổi cấu trúc phúc lợi.
- J. Gregory Dees (1998) trong "The Meaning of Social Entrepreneurship" chứng minh DNXH xuất hiện khi những nỗ lực của chính phủ và các tổ chức từ thiện truyền thống không thể đáp ứng được kỳ vọng giải quyết các thất bại thị trường và nan đề xã hội.
- William D. Eggers và Paul Macmillan (2013) trong "The Solution Revolution" nhấn mạnh liên minh công - tư giữa chính phủ, doanh nghiệp và DNXH để giải quyết các bài toán hóc búa của nhân loại.
- Carlo Borzaga và Giulia Galera (2006) khi nghiên cứu kinh nghiệm thực chứng từ Ý, cùng Paola Marie Grenier (2006) và Walter Mswaka (2013) tại Vương quốc Anh, đã phân tích sự chuyển dịch từ ý thức trách nhiệm xã hội sang khuôn khổ pháp lý thực định như mô hình Công ty Lợi ích Cộng đồng (Community Interest Company - CIC) và Nghị định số 155/2006/NĐ của Ý.
Tại Việt Nam, các công trình của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Hội đồng Anh, Đại học Kinh tế Quốc dân (2012), Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP, 2012), Trương Thị Nam Thắng và cộng sự (2016), cùng các nghiên cứu pháp lý của Nguyễn Thị Yến (2014, 2018), Nguyễn Toàn Thắng (2019), Hoàng Phan Bá Phương (2015), Nguyễn Thị Thu Hà (2016) đã bước đầu phác thảo diện mạo DNXH. Tuy nhiên, literature review chỉ ra 3 mâu thuẫn học thuật sâu sắc:
- Tranh luận về tính định danh: Một trường phái coi DNXH thuần túy là một "phương thức hoạt động", "nhãn xã hội" gán lên các loại hình công ty truyền thống; trong khi trường phái thể chế hóa yêu cầu xác lập DNXH là một thực thể pháp lý độc lập có quy chế hoạt động riêng biệt.
- Xung đột giữa mục tiêu kinh doanh và sứ mệnh xã hội: Tranh cãi giữa quan điểm tối đa hóa lợi nhuận để phục vụ xã hội và quan điểm hạn chế phân chia lợi tức nhằm bảo toàn mục tiêu dân sinh.
- Rào cản tiếp cận chính sách: Các nghiên cứu trước chỉ ra bất cập về chính sách ưu đãi nhưng chưa xây dựng được cơ chế cấu thành địa vị pháp lý hoàn chỉnh.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế, tại Anh (nơi DNXH đóng góp hơn 24 tỷ GBP cho nền kinh tế năm 2015) và Úc (nơi DNXH sử dụng 300.000 lao động, đóng góp 2-3% GDP năm 2016), khung pháp lý dành cho DNXH được thiết kế đa dạng hình thức (từ hợp tác xã, công ty lợi ích cộng đồng đến quỹ tín thác). Luận án của NCS. Nguyễn Thị Diễm Anh định vị chính xác khoảng trống này để xác lập khung địa vị pháp lý hoàn chỉnh cho DNXH Việt Nam trong sự tương thích với pháp luật quốc tế.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận khoa học luật kinh tế thông qua việc định nghĩa và tái cấu trúc khái niệm địa vị pháp lý của DNXH:
- Mở rộng Lý thuyết Doanh nghiệp: Luận án chứng minh DNXH là sự tiến hóa của lý thuyết công ty hiện đại, vượt qua nhị nguyên truyền thống giữa "tổ chức kinh doanh vị lợi nhuận thuần túy" (for-profit) và "tổ chức phi chính phủ/từ thiện phi lợi nhuận" (non-profit), xác lập bản chất lai (hybrid organization):
"Doanh nghiệp xã hội là tổ chức có hình thức pháp lý là doanh nghiệp, vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng xã hội nhưng hoạt động không vì tối đa hóa lợi nhuận và luôn đặt trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường lên hàng đầu."
- Bổ sung Lý thuyết Quyền tự do kinh doanh: Chứng minh quyền tự do kinh doanh không chỉ giới hạn ở quyền mưu cầu lợi ích kinh tế cá nhân mà còn bao hàm quyền tự do sử dụng công cụ doanh nghiệp để thực hiện trách nhiệm cộng đồng, khắc phục khuyết tật thị trường.
- Tái định vị Lý thuyết Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR): Phân định ranh giới bản chất: CSR ở doanh nghiệp thông thường là công cụ cam kết tự nguyện, nâng cao thương hiệu; trong khi chức năng xã hội ở DNXH là nghĩa vụ pháp lý nội tại, điều kiện tiên quyết duy trì tư cách chủ thể:
"Việc thành lập DNXH thường không dựa trên khát vọng hướng tới lợi nhuận mà dựa trên động lực xã hội."
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án kết hợp đa chiều 4 yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của DNXH:
classDiagram
class DiaViPhapLyDNXH {
+TuCachChuThe HinhThucPhapLy
+QuyenVaNghiaVuDacThu TaiDauTu51PhanTram
+CheDinhQuanTriNoiBo CoCheGiamSatNhiemVu
+QuanLyNhaNuoc UuDaiVaHoTroThue
}
class HinhThucPhapLy {
+TNHH, CoPhan, HopDanh, DNTN
+MoRong: HopTacXa, HoKinhDoanh
}
class QuyenNghiaVu {
+GiaiQuyetVanDeXaHoi
+Trích giu lai >= 51% loi nhuan
+Nhan vien tro cap hop phap
}
class CheDinhQuanTri {
+Cong khai minh bach tac dong
+Bao ve su menh xa hoi
+Giam sat phan bo loi nhuan
}
class QuanLyNhaNuoc {
+Co quan chuyen trach ho tro
+Uu dai tin dung, mat bang, thue
+Hau kiem chuyen nganh
}
DiaViPhapLyDNXH *-- HinhThucPhapLy
DiaViPhapLyDNXH *-- QuyenNghiaVu
DiaViPhapLyDNXH *-- CheDinhQuanTri
DiaViPhapLyDNXH *-- QuanLyNhaNuoc
Khung phân tích thiết lập 4 điều kiện biên (boundary conditions) chặt chẽ:
- Điều kiện mục tiêu: Duy trì liên tục mục tiêu xã hội/môi trường đã đăng ký trong suốt vòng đời hoạt động.
- Điều kiện phân phối tài chính: Tái đầu tư tối thiểu 51% tổng lợi nhuận hằng năm cho mục tiêu đã đăng ký.
- Điều kiện nguồn vốn tài trợ: Minh bạch và sử dụng đúng mục đích các nguồn viện trợ, tài trợ phi chính phủ, không chia lợi tức từ vốn tài trợ.
- Điều kiện giải thể/chuyển đổi: Số dư tài sản có nguồn gốc từ tài trợ phải hoàn trả hoặc chuyển giao cho các DNXH khác khi chấm dứt hoạt động.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận hiện thực phê phán (critical realism) kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thiết kế nghiên cứu đa tầng kết hợp phân tích chuẩn tắc luật học (doctrinal legal research) với phân tích luật học thực nghiệm (empirical legal studies):
- Cấp độ vĩ mô: Phân tích đường lối, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh 2011 và Quyết định số 432/QĐ-TTg.
- Cấp độ trung mô: Rà soát hệ thống quy phạm pháp luật thực định (Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư, pháp luật thuế, kế toán).
- Cấp độ vi mô: Khảo sát thực tế cơ cấu tổ chức, vận hành, tài chính của các mô hình DNXH tiêu biểu tại Việt Nam.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt qua 4 bước:
flowchart LR
Step1["1. Thu thập dữ liệu thứ cấp<br>(ProQuest, Springer, HeinOnline, Google Scholar)"] --> Step2["2. Phân tích quy chuẩn văn bản<br>(Luật DN 2014, 2020, Nghị định hướng dẫn)"]
Step2 --> Step3["3. Khảo cứu thực chứng & So sánh luật<br>(Kinh nghiệm Anh, Ý, Hàn Quốc, Canada)"]
Step3 --> Step4["4. Phỏng vấn sâu & Triangulation<br>(Chuyên gia, cơ quan đăng ký kinh doanh, DNXH)"]
Quy trình bảo đảm chuẩn mực phương pháp:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác toàn diện hệ thống dữ liệu quốc tế từ ProQuest, Springer, Google Scholar và các tạp chí khoa học chuyên ngành luật học, kinh tế học trong và ngoài nước.
- Kỹ thuật đối tam giác (Triangulation): Kết hợp kiểm chứng dữ liệu văn bản pháp luật, dữ liệu thống kê từ CIEM, British Council, CSIP và dữ liệu phỏng vấn sâu trực tiếp lãnh đạo DNXH tiên phong (như KOTO, Mai Handicrafts, Tòhe...).
- Độ tin cậy và giá trị nội dung: So sánh đối chiếu chuẩn xác giữa quy định trên văn bản và rào cản thực thi trên thực tế, phân tích nguyên nhân thể chế dẫn đến sự chênh lệch giữa chính sách và hành vi của chủ thể kinh doanh.
Data và phân tích
Phân tích dữ liệu thực chứng chỉ ra cấu trúc vận hành đặc thù của khu vực DNXH Việt Nam:
- Phân bổ địa lý: 50% tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; gần 50% phân bổ tại địa bàn nông thôn.
- Cơ cấu quy mô doanh thu: 40% DNXH có quy mô siêu nhỏ (doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm); 19% đạt mức từ 1 đến 5 tỷ đồng; 23% đạt mức từ 5 đến 25 tỷ đồng; 18% đạt quy mô trên 25 tỷ đồng.
- Quy mô nhân sự: 70% DNXH sử dụng dưới 20 lao động; tập trung vào 3 lĩnh vực chủ yếu: đào tạo nghề - tạo việc làm cho nhóm yếu thế, thủ công mỹ nghệ và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- So sánh năng suất đóng góp vĩ mô quốc tế: Tại Pháp, DNXH đóng góp hơn 10% GDP; tại Ý đóng góp 15% GDP; tại Hà Lan và Bỉ đạt trên 5,9% GDP; tại Anh tạo ra hơn 24 tỷ GBP (năm 2015) và tại Úc tạo ra 2-3% GDP (năm 2016). Điều này khẳng định tiềm năng kinh tế khổng lồ của DNXH nếu được giải phóng bằng một hành lang pháp lý chuẩn hóa.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Thiếu vắng định nghĩa pháp lý hoàn chỉnh và sự bất cập của tiêu chí nhận diện:
Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và năm 2020 chỉ liệt kê tiêu chí nhận diện mà không đưa ra định nghĩa pháp lý bản chất về DNXH, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong nhận thức xã hội và áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý.
- Bó hẹp hình thức pháp lý gây cản trở tiếp cận mô hình:
Pháp luật hiện hành chỉ cho phép DNXH tồn tại dưới các loại hình công ty truyền thống thuộc Luật Doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân), hoàn toàn loại trừ Hợp tác xã, Hộ kinh doanh và các tổ chức phi lợi nhuận muốn chuyển đổi, làm triệt tiêu động lực tham gia của nhiều chủ thể kinh tế cơ sở.
- Rào cản bất khả thi trong thực thi chính sách ưu đãi, hỗ trợ:
Mặc dù Luật Doanh nghiệp quy định DNXH được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước nhưng các luật chuyên ngành (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Các tổ chức tín dụng) hoàn toàn không có quy định riêng biệt, tạo ra khoảng trống cơ chế khiến chính sách chỉ tồn tại trên giấy:
"Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ DNXH ở Việt Nam ra đời và phát triển chưa được quy định rõ ràng trong pháp luật... khiến cho DNXH gặp nhiều khó khăn trong tổ chức và hoạt động."
- Nghĩa vụ tái đầu tư 51% thiếu cơ chế giám sát và hạch toán chuyên biệt:
Quy định bắt buộc trích ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội chưa đi kèm hệ thống chuẩn mực kế toán - kiểm toán xã hội (Social Accounting and Audit), gây lúng túng trong xác định lợi nhuận chịu thuế và minh bạch tài chính.
- Khoảng trống pháp lý trong quản trị nội bộ và chuyển đổi/giải thể:
Chưa có cơ chế pháp lý bảo vệ sứ mệnh xã hội (mission lock) khi thay đổi cơ cấu cổ đông, sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể, dẫn đến rủi ro "trục lợi chính sách" hoặc làm thất thoát tài sản tài trợ cộng đồng.
Implications đa chiều
flowchart TD
subgraph P1["Định hướng Hoàn thiện Thể chế"]
A1["Bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp"]
A2["Tạo điều kiện thuận lợi thực hiện chức năng xã hội"]
A3["Bảo đảm tính khả thi thực tiễn & hiệu lực quản lý nhà nước"]
end
subgraph P2["Nhóm Giải pháp Quy phạm"]
B1["Luật hóa định nghĩa DNXH tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp"]
B2["Mở rộng hình thức pháp lý: Cho phép HTX, Hộ kinh doanh"]
B3["Sửa đổi Luật Thuế TNDN: Miễn/giảm thuế cho phần lợi nhuận 51% tái đầu tư"]
B4["Bổ sung chế định Quản trị nội bộ & Bảo vệ sứ mệnh (Mission Lock)"]
end
subgraph P3["Nhóm Giải pháp Thực thi"]
C1["Thành lập Cơ quan chuyên trách hỗ trợ DNXH"]
C2["Ban hành Chuẩn mực kế toán & Báo cáo tác động xã hội"]
C3["Xây dựng Cổng thông tin quốc gia & Hệ sinh thái tài chính vi mô"]
end
P1 --> P2
P2 --> P3
- Về mặt lập pháp: Sửa đổi Điều 10 Luật Doanh nghiệp theo hướng bổ sung định nghĩa pháp lý chuẩn xác; sửa đổi đồng bộ Luật Thuế TNDN để miễn thuế đối với phần lợi nhuận tái đầu tư cho mục tiêu xã hội; bổ sung quy chế chuyển giao tài sản khi giải thể.
- Về mặt quản trị công: Thành lập cơ quan chuyên trách hỗ trợ DNXH thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tương tự mô hình Office of the Regulator of Community Interest Companies tại Vương quốc Anh) nhằm quản lý cấp phép nhãn xã hội, hướng dẫn và hậu kiểm minh bạch.
- Về mặt kinh tế - xã hội: Tạo lập cơ chế tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh ưu đãi, tín dụng ưu đãi vi mô và chính sách ưu tiên mua sắm công (public procurement) đối với sản phẩm, dịch vụ do DNXH cung ứng.
Limitations và Future Research
- Giới hạn về phạm vi thời gian: Luận án phân tích thực tiễn thực thi pháp luật từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực đến ngày 01/5/2021. Các biến động kinh tế - pháp lý sau thời điểm này (đặc biệt là tác động sâu của đại dịch COVID-19 và các văn bản dưới luật hướng dẫn Luật Doanh nghiệp 2020) cần được cập nhật liên tục.
- Giới hạn về cơ sở dữ liệu thực nghiệm: Do tính phân tán của khu vực DNXH tại Việt Nam và việc nhiều đơn vị hoạt động trên thực tế nhưng không đăng ký chính thức là DNXH theo Luật Doanh nghiệp, cỡ mẫu thực tế tập trung vào các tổ chức đã định danh hoặc khảo sát qua các mạng lưới liên kết.
- Hướng nghiên cứu tương lai:
- Nghiên cứu cơ chế tài chính hỗn hợp (blended finance) và trái phiếu tác động xã hội (Social Impact Bonds - SIBs) dưới góc độ pháp lý tại Việt Nam.
- Xây dựng khung pháp lý về doanh nghiệp tạo tác động xã hội (Social Impact Businesses - SIBs) mở rộng ngoài ranh giới Điều 10 Luật Doanh nghiệp.
- Hoàn thiện chế định kế toán xã hội và kiểm toán tác động xã hội độc lập trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tác động và ảnh hưởng
- Giá trị học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo mẫu mực, đặt nền móng lý luận kinh tế luật học cho các nghiên cứu tiếp theo về DNXH, doanh nghiệp tạo tác động tại các viện nghiên cứu, trường đại học đào tạo luật và kinh tế.
- Tác động hoạch định chính sách: Đóng góp hệ thống luận cứ thực chứng và giải pháp lập pháp trực tiếp phục vụ các đợt rà soát, sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững.
- Lợi ích xã hội: Tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giải phóng nguồn lực tư nhân và khơi dậy tinh thần khởi nghiệp vì cộng đồng, giúp cải thiện sinh kế bền vững cho hàng triệu người yếu thế và giảm tải ngân sách nhà nước trong cung ứng dịch vụ công ích.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên luật: Tiếp cận hệ thống lý luận hoàn chỉnh, dữ liệu tổng quan sâu sắc và khung phân tích chuyên sâu về địa vị pháp lý của doanh nghiệp lai.
- Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp có cơ sở khoa học để thiết kế chính sách ưu đãi khả thi.
- Cộng đồng doanh nhân xã hội và các tổ chức phi chính phủ: Nắm vững quyền, nghĩa vụ pháp lý, quy chế quản trị nội bộ để tổ chức vận hành minh bạch, an toàn pháp lý và tiếp cận tối đa các nguồn lực tài trợ, đầu tư tác động.
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý luận độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã phân định ranh giới bản chất giữa "trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" (CSR - một cam kết hành vi mang tính đạo đức/thương hiệu tự nguyện) và "chức năng xã hội của DNXH" (nhiệm vụ pháp lý cấu thành địa vị chủ thể bắt buộc). Đồng thời, luận án chứng minh tính ưu việt vượt trội của DNXH so với đơn vị sự nghiệp công lập và ngân hàng chính sách nhờ khả năng tự chủ tài chính linh hoạt từ hoạt động kinh doanh mà không phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước.
-
Tính mới trong phương pháp tiếp cận so với các nghiên cứu tiền nhiệm?
So với công trình của Nguyễn Thị Thu Hà (2016) vốn chỉ giới hạn phân tích luật học thuần túy theo Luật Doanh nghiệp 2014, luận án của NCS. Nguyễn Thị Diễm Anh tích hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành luật học - kinh tế học, kết hợp phân tích đối chiếu pháp luật so sánh (Anh, Ý, Hàn Quốc, Canada, Hà Lan) với dữ liệu thực chứng đa dạng (tỷ lệ doanh thu, lao động, phân bố vùng miền, so sánh tỷ trọng đóng góp GDP quốc tế).
-
Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất trong luận án là gì?
Dù Luật Doanh nghiệp 2014 đã mở ra cánh cửa pháp lý đầu tiên, nhưng có tới 70% DNXH vẫn ở quy mô dưới 20 lao động và 40% có doanh thu dưới 1 tỷ đồng, phần lớn phải đối mặt với tình trạng "vướng mắc kép": vừa chịu sự giám sát chặt chẽ về tỷ lệ trích nộp 51% lợi nhuận, vừa không thể tiếp cận được bất kỳ ưu đãi thuế hay đất đai nào do sự đứt gãy giữa Luật Doanh nghiệp và pháp luật chuyên ngành.
-
Quy trình kiểm chứng và nhân rộng giải pháp có được xác lập rõ ràng không?
Luận án thiết kế lộ trình 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 tập trung hoàn thiện các quy định nhận diện, mở rộng hình thức pháp lý và ban hành nghị định hướng dẫn ưu đãi thuế chuyên biệt; Giai đoạn 2 thành lập cơ quan chuyên trách quản lý - hỗ trợ DNXH và tích hợp hệ thống đo lường kế toán tác động xã hội thống nhất trên toàn quốc.
-
Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới mở ra từ luận án là gì?
Trọng tâm chuyển dịch sang nghiên cứu khuôn khổ pháp lý cho việc huy động vốn đầu tư tác động (Impact Investing), hoàn thiện pháp luật về hợp tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực dịch vụ xã hội do DNXH cung ứng, và xây dựng cơ chế bảo vệ tài sản xã hội trong bối cảnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp (M&A).
Kết luận
- Xác lập hệ thống cơ sở lý luận toàn diện, định danh rõ ràng khái niệm, bản chất lai và các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của DNXH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Khẳng định tính ưu việt của DNXH như một giải pháp thể chế bền vững, đồng hành cùng Nhà nước giải quyết các thất bại thị trường và giảm tải áp lực chi tiêu công an sinh xã hội.
- Đánh giá toàn diện thực trạng thi hành pháp luật giai đoạn 2014–2021, chỉ rõ các điểm nghẽn về hình thức pháp lý, thiếu vắng cơ chế quản trị đặc thù và sự đứt gãy chính sách ưu đãi.
- Đề xuất hệ thống định hướng lập pháp đồng bộ, nhấn mạnh sự thống nhất giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật thuế, đầu tư, đất đai, tín dụng.
- Kiến nghị giải pháp cụ thể: bổ sung định nghĩa luật định tại Luật Doanh nghiệp, mở rộng chủ thể thành lập sang Hợp tác xã và Hộ kinh doanh, sửa đổi chính sách miễn thuế cho phần lợi nhuận 51% tái đầu tư, và thành lập cơ quan chuyên trách hỗ trợ DNXH.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật tiên phong về thị trường vốn tác động xã hội và cơ chế kiểm toán xã hội trong kỷ nguyên phát triển bền vững tại Việt Nam.