Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần 1.1 Khái niệm công ty cổ phần Trước khi nghiên cứu tìm hiểu về địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần chúng ta cần đi từ những khái niệm cơ bản như công ty cổ phần, Đại hội đồng cổ đông là như thế nào. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 tại điều 110 có quy định: ”Doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Những tổ chức hoặc cá nhân nắm giữ các cổ phần được gọi là cổ đông và số lượng cổ đông trong công ty cổ phần tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ Luận văn thạc sĩ Luật Học tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp”.
[30] Theo cách hiểu này thì công ty cổ phần có các dấu hiệu cơ bản là: i/ Là một loại hình doanh nghiệp; ii/ Số lượng thành viên tối thiểu là 3, tối đa không hạn chế, thành viên là tổ chức hoặc cá nhân được gọi là cổ đông; iii/Vốn điều lệ của công ty được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần; iv/Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; v/Công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn của doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp 2014 thì Đại hội đồng cổ đông là bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần [30]. Như vậy, Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có tính “quyền lực” của công ty cổ phần. Quyền lực của Đại hội đồng cổ đông thể hiện thông qua 6 việc ra các quyết định quan trọng của công ty.
Phương thức ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông là sự biểu quyết của cổ đông tại cuộc họp hoặc phương thức khác theo nguyên tắc đối vốn. Chính vì lẽ đó, Đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần chỉ bao gồm cổ đông có quyền biểu quyết và bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, không có trường hợp ngoại lệ. Khái niệm địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông Trong các văn bản luật chính thống của Việt Nam như Luật công ty (1990) Luật doanh nghiệp (1999, 2005, 2014), Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại… đều chưa chưa có một định nghĩa về địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần. Theo Từ điển Luật học thì địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở quy định của pháp luật [34, tr 58].
Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của Luận văn thạc sĩ Luật Học mình. Thông qua địa vị pháp lý ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể rất khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng của chủ thể trong mối quan hệ pháp lý. Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu khái niệm địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần. Về mặt lý luận, địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông có thể được hiểu theo phương diện là chế định pháp lý về Đại hội đồng cổ đông hoặc theo phương diện tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cổ đông.
Phương diện là chế định pháp lý thì địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, hoạt động của Đại hội đồng cổ đông, mối quan hệ giữa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban giám đốc và các cổ đông. Theo phương diện này thì địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông có các dấu hiệu cơ bản là: i/ Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông hình thành trên cơ sở các quy định của pháp luật. Tức là pháp luật quy định về Đại hội đồng cổ đông và tất cả các quy đinh của pháp luật về Đại hội đồng cổ đông sẽ xác lập lên địa vị pháp lý của nó. ii/ Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cổ đông.
Pháp luật là “quy tắc xử sự”, trong đó những Luận văn thạc sĩ Luật Học phương thức xử sự cơ bản là “được” và “phải”, tức là quyền và nghĩa vụ. Địa vị pháp lý của bất kỳ thể nhân, pháp nhân nào cũng cơ bản được hình thành trên cơ sở những quy tắc xử sự mà pháp luật trao, đối với Đại hội đồng cổ đông cũng vậy. Nói cách khác thì vị trí của Đại hội đồng cổ đông về mặt pháp lý thể hiện thông qua các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho nó. iii/ Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông thể hiện trong việc nó được độc lập tham gia các quan hệ pháp luật.
Đại hội đồng cổ đông với tư cách là một bộ phận, một thiết chế trong cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần nó sẽ được tham gia quan các quan hệ pháp luật với các bộ phận, thiết chế khác trong doanh nghiệp phù hợp với quyền và nghĩa vụ nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nó. Trong đó, xuất phát từ bản chất pháp lý của mình, điều lệ công ty sẽ có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của Đại hội cổ đông trên cơ sở không trái với các quy định ”tối thiểu” của pháp luật về công ty. 8 iv/ Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông thể hiện trong các quan hệ pháp luật và mối liên hệ với Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban giám đốc và các cổ đông. Đây là các bộ phận, cá nhân thuộc cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần hoặc có quyền tham gia quản trị doanh nghiệp.
Do cùng tham gia quản lý, điều hành, quản trị doanh nghiệp nên Đạ hội đồng cổ đông tham gia mối quan hệ và có mối liên hệ với các bộ phận, cá nhân này. Thông qua các quan hệ và mối liên hệ này, vị trí của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần càng lộ rõ và được khảng định. Đặc điểm địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần Do Đại hội đồng cổ đông là nơi hội tụ của các đồng sở hữu công ty nên đây là cơ quan quyết định cao nhất trong công ty cổ phần chính vì vậy đây là cơ quan quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu doanh nghiệp, bầu các chức danh thành viên Hội đồng quản trị, Ban Luận văn thạc sĩ Luật Học kiểm soát, bán hoặc đầu tư các tài sản, hợp đồng, dự án có giá trị lớn hoặc thông qua báo cáo tài chính… Địa vị pháp lý của Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần có nét tương đồng với Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn đó là tính quyền lực cao nhất trong doanh nghiệp. Quyền lực này là quyền lực mang tính tập thể đại diện lợi ích cho toàn bộ cổ đông.
Tuy nhiên, tính quyền lực của Đại hội đồng cổ đông thể hiện phần lớn thông qua tính chất định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp chứ không giải quyết các công việc có tính sự vụ, trừ một vài trường hợp cụ thể. Sự thể hiện quyền lực của Đại hội đồng cổ đông diễn ra định kỳ - các cuộc họp thường niên và các cuộc họp bất thường. Trung bình một doanh nghiệp hàng năm chỉ có một vài cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông nên tính quyền lực của Đại hội đồng cổ đông mang tính gián tiếp, nó chủ yếu được 9 thể hiện thông qua các hoạt động thi hành của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Mối quan hệ quyền lực giữa Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị, Bản kiểm soát trong công ty cổ phần vừa mang tính quyền lực (chỉ huy) vừa mang tính giám sát.
Tính quyền lực thể hiện ở chỗ, Đại hội đồng cổ đông bầu thành viên và chỉ đạo các hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Tính giám sát được thể hiện ở chỗ, sau khi giao nhiệm vụ cho Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Đại hội đồng cổ đông kiểm tra, giám sát hoạt động các cơ quan này thông qua các kết quả công việc và các báo cáo thường niên hoặc đột xuất. Mặc dù Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của doanh nghiệp nhưng quyền lực này bị hạn chế bởi nó không phải là cơ quan thường trực do đó quyền lực không phải lúc nào cũng là quyền lực trực tiếp. Luận văn thạc sĩ Luật Học 1.
Tính khách quan của sự tồn tại thiết chế Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần Thứ nhất: Tất yếu của Đại hội đồng cổ đông xuất phát từ tư cách là chủ sở hữu của cổ đông Tại Việt Nam, quyền kinh doanh đã được hiến định tại Điều 33, Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”[29]. Phù hợp với quy định đó Hiến pháp, Điều 5 Luật Đầu tư 2014 quy định: “Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm; Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của pháp luật”. Đồng thời với việc ghi nhận quyền đầu tư, kinh doanh 10 của các tổ chức, cá nhân, Điều 22 Luật Đầu tư 2014 quy định: “Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật.