CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BAN KIỂM SOÁT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1- Khái quát cơ cấu tổ chức công ty cổ phần Tổ chức các doanh nghiệp dưới mô hình công ty có lịch sử hình thành và phát triển tương đối lâu dài trên thế giới. Trong đó công ty cổ phần “xét ở góc độ lịch sử hình thành và phát triển thì nó xuất hiện trước công ty trách nhiệm hữu hạn một thời gian khá dài” 4. Loại hình công ty này đã phát triển ở hầu hết các nước “từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty đa quốc gia” 5. Hiện nay, khi nền kinh tế thị trường được đề cao bởi quy luật cạnh tranh giữa các chủ thể trong hoạt động kinh doanh mà khi tham gia vào các quan hệ này, sự tự do, sự sáng tạo của các chủ thể được phát huy tối đa trong đó có tự do trong việc lựa chọn loại hình kinh doanh.
Chính vì vậy, công ty cổ phần đã trở thành một loại hình kinh doanh phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và “được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển” 6. Việt Nam, với vị thế của quốc gia đang phát triển cũng tiếp thu những thành tựu văn minh nhân loại trong đó có thành tựu về kinh tế vì vậy những loại hình doanh nghiệp trong đó có mô hình công ty cổ phần đã được quy định tại Luật Công ty năm 1990; Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005. Theo quy định tại Điều 95 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần gồm có: 1.1 Đại hội đồng cổ đông Bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, đây là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. Giống như cơ quan lập pháp, Đại hội đồng cổ đông chỉ họp thường niên hoặc bất thường ít nhất một lần trong 4 Bùi Xuân Hải (2011), Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, trang 58 5 Đặng Cẩm Thuý (1997) “Bàn về con đường hình thành công ty cổ phần ở các nước Tư bản và vận dụng vào Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 225).
6 Nguyễn Ngọc Bích (2004), Luật Doanh nghiệp: vốn và quản lý trong công ty cổ phần, NXB Trẻ, trang 38. Đây được xem là nơi tập trung quyền lực của những người có phần vốn góp trong công ty và là nơi quyết định hầu hết những vấn đề quan trọng có ý nghĩa đến sự tồn tại của công ty. Có thể phân định thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông thành các nhóm sau: - Một là: Đại hội đồng cổ đông có quyền thông qua định hướng phát triển công ty, quyết định tổ chức, giải thể công ty. Đây là những vấn đề liên quan đến nền tảng của công ty nên chỉ có Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất mới có thẩm quyền này.
- Hai là: Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại. - Ba là: Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định về mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần. - Bốn là: Đại hội đồng cổ đông có quyền thông qua báo cáo tài chính hằng năm của công ty cũng như báo cáo đánh giá công tác quản lý và điều hành công ty. - Năm là: Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại.
Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại, do đó khi công ty mua lại các cổ phần đã bán, đặc biệt là mua lại với số lượng lớn (trên 10%) có khả năng ảnh hưởng đến cơ cấu vốn điều lệ của công ty thì phải được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông. - Sáu là: Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định khác. - Bảy là: Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, đồng thời có quyền xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông. - Tám là: Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.
9 Do tính chất quan trọng trong các quyết định của Đại hội đồng cổ đông có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần nên Luật Doanh nghiệp cũng đã quy định rất chặt chẽ về thẩm quyền triệu tập họp, theo đó Đại hội thường niên phải được tiến hành trong thời hạn bốn tháng, nhưng tối đa không được quá sáu tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính để thảo luận và thông qua các vấn đề chính như báo cáo tài chính hằng năm; báo cáo của Hội đồng quản trị; báo cáo của Ban kiểm soát; quyết định mức cổ tức đối với mỗi cổ phần của từng loại và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền. Bên cạnh cuộc họp thường niên, cuộc họp bất thường Đại hội đồng cổ đông cũng được tiến hành khi Hội đồng quản trị xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty; khi số thành viên Hội đồng quản trị còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật; theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty; theo yêu cầu của Ban kiểm soát. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông chỉ được tiến hành khi số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Nếu cuộc họp lần thứ nhất không tiến hành được thì sẽ triệu tập cuộc họp lần thứ hai trong vòng 30 ngày kể từ ngày họp lần thứ nhất, cuộc họp này diễn ra khi số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần biểu quyết.
Nếu cuộc họp này lại không thể tiến hành thì cuộc họp lần ba sẽ được triệu tập mà không cần phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết trong vòng 20 ngày kể từ ngày họp lần thứ 2. Quyết định của Đại hội đồng cổ đông chỉ được thông qua tại cuộc họp khi được ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của cổ đông dự họp chấp thuận; đối với việc quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán, sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại/giải thể công ty, đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của cổ đông dự họp chấp thuận. Việc biểu quyết bầu thành viên Hội 10 đồng quản trị và Ban kiểm soát được thực hiện thông qua phương thức bầu dồn phiếu; trường hợp quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua dưới hình thức bằng văn bản chỉ có giá trị khi được ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận. Như vậy, việc triệu tập họp, tham dự cuộc họp và thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông được quy định rất chặt chẽ, trong trường hợp có sự vi phạm trình tự và thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông cũng như trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định của Đại hội đồng cổ đông vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty thì cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban kiểm soát có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trừ trường hợp các quyết định được thông qua tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông với số phiếu cổ phần trực tiếp và ủy quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp.2- Hội đồng quản trị Là cơ quan quản lý công ty, có toàn bộ quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông 7.
Có thể phân quyền và nhiệm vụ của Hội đồng quản trị thành các nhóm sau: Thứ nhất nhóm quyền quyết định: Về chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; về chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại hoặc huy động thêm vốn theo hình thức khác; về giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty; về mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã được chào bán trong mỗi mười hai tháng; về thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh về phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn; về giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị công nghệ, thông qua hợp đồng vay và các hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ trừ các giao 7 Khoản 1 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2005.