Tổng quan nghiên cứu

An Giang là tỉnh duy nhất ở Tây Nam Bộ có cộng đồng Chăm Islam sinh sống tập trung, với 15.327 người, chiếm 0,67% trong tổng số 2,164 triệu dân toàn tỉnh (số liệu năm 2018) và gần 20% tổng số người Chăm cả nước. Cộng đồng này cư trú tại 5/11 huyện, thị xã, thành phố, hình thành 9 palei Chăm cùng hệ thống 12 thánh đường và 16 tiểu thánh đường – nơi lưu giữ những giá trị di sản độc đáo bậc nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Luận văn thạc sĩ Chính sách công của tác giả Ngô Thị Mai, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2021 dưới sự hướng dẫn của PGS. Cao Thu Hằng, đặt vấn đề nghiên cứu ở khoảng trống thực tiễn: dù toàn tỉnh có 86 di tích được xếp hạng (2 di tích quốc gia đặc biệt, 28 di tích quốc gia, 56 di tích cấp tỉnh) và 6 di sản phi vật thể đã lập hồ sơ khoa học, việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa Chăm vẫn chưa được nghiên cứu như một thực thể chính sách công độc lập.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba nhiệm vụ: làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đối với di sản Chăm tại An Giang; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả. Phạm vi khảo sát trải dài từ năm 2000 đến năm 2021, tập trung tại huyện An Phú, thị xã Tân Châu, huyện Châu Phú và Châu Thành.

Ý nghĩa của nghiên cứu gắn trực tiếp với định hướng đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của An Giang. Khi làng nghề dệt Châu Phong chỉ còn 3 hộ giữ nghề thổ cẩm truyền thống, việc chuyển hóa di sản thành tài nguyên du lịch trở thành bài toán cấp bách vừa mang giá trị văn hóa vừa mang giá trị kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên hai nền tảng lý thuyết chính. Thứ nhất là lý thuyết chu trình chính sách công, với mô hình rút gọn ba bước: xây dựng chính sách – tổ chức thực hiện – đánh giá chính sách. Tác giả tổng hợp quan điểm của Thomas Dye ("chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm"), Guy Peter, Cochran và Malone, đối chiếu với các học giả trong nước như Nguyễn Hữu Hải, Lê Chi Mai, Lê Văn Hòa – người đã khái quát 7 đặc điểm cơ bản của chính sách công.

Thứ hai là lý thuyết bảo tồn di sản gắn với phát triển, dựa trên định nghĩa chính sách văn hóa của UNESCO năm 2002 và Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể năm 2003. Luận điểm cốt lõi: bảo tồn và phát huy là hai khái niệm song hành, tương hỗ – phát huy tốt di sản sẽ đồng thời bảo tồn bền vững di sản đó.

Mô hình phân tích được vận hành qua 7 bước tổ chức thực hiện chính sách: (1) xây dựng kế hoạch triển khai; (2) phổ biến, tuyên truyền; (3) phân công, phối hợp; (4) duy trì chính sách; (5) điều chỉnh chính sách; (6) theo dõi, kiểm tra, đôn đốc; (7) đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm. Năm khái niệm chính được thao tác hóa gồm: chính sách công, chính sách văn hóa, di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, và thực hiện chính sách bảo tồn – phát huy.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế định tính kết hợp thống kê mô tả. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Di sản văn hóa, Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết 33-NQ/TW khóa XI), các quyết định cấp tỉnh (Quyết định 1921/QĐ-UBND, Quyết định 38/2012/QĐ-UBND, Quyết định 499/QĐ-UBND), cùng báo cáo của Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh An Giang.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao phủ toàn bộ 5 huyện, thị xã, thành phố có người Chăm cư trú, với 9 palei và 28 cơ sở thờ tự được ghi nhận. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích, ưu tiên hai địa bàn trọng điểm An Phú và Tân Châu – nơi tập trung đa số dân cư Chăm. Tác giả kết hợp phỏng vấn sâu với Ban quản trị thánh đường, nghệ nhân và cán bộ văn hóa cấp huyện, xã.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu kết hợp thống kê – so sánh: đối tượng nghiên cứu là quá trình thực thi chính sách kéo dài hơn 20 năm, đòi hỏi truy vết văn bản theo thời gian hơn là đo lường bằng mô hình định lượng. Timeline nghiên cứu chia hai giai đoạn – giai đoạn 2000–2012 (khởi động các đề án làng nghề) và giai đoạn 2013–2020 (kiện toàn bộ máy, kiểm kê di sản).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống văn bản chính sách được ban hành khá đầy đủ nhưng phân tán. Trong giai đoạn khảo sát, UBND tỉnh An Giang ban hành ít nhất 8 văn bản trực tiếp liên quan, từ Chương trình số 03/CTr-UBND (17/02/2007) về bảo tồn làng nghề, Đề án phát triển tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2008–2012, đến Kế hoạch số 759/KH-UBND (20/12/2017) và Kế hoạch 202/KH-UBND (25/4/2019) về trang phục truyền thống. Tuy nhiên, không có văn bản nào dành riêng cho di sản Chăm – nội dung Chăm luôn được lồng ghép trong khung chung của 28 dân tộc thiểu số.

Thứ hai, kết quả bảo tồn di sản vật thể vượt trội so với phi vật thể. Thánh đường Mubarak (xã Châu Phong, thị xã Tân Châu) được công nhận di tích kiến trúc cấp quốc gia ngày 12/12/1986 và di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 05/12/1989; công trình khởi dựng năm 1750, trải qua 4 lần trùng tu lớn, lần gần nhất năm 1965. Ngược lại, mảng phi vật thể suy giảm rõ rệt: nghề dệt thổ cẩm Châu Phong chỉ còn 3/nhiều chục hộ giữ nghề truyền thống – mức suy giảm trên 90% so với thời điểm khôi phục Hợp tác xã dệt Châu Giang năm 1997.

Thứ ba, đầu tư thiết chế văn hóa còn mỏng. Từ 2014 đến 2018, toàn tỉnh chỉ được cấp 50 bộ trang thiết bị âm thanh cho 31 xã có đồng bào Khmer và Chăm – bình quân chưa tới 1,6 bộ/xã. Tính đến 6 tháng đầu năm 2019, 18 xã có đồng bào dân tộc thiểu số có nhà văn hóa. Kinh phí mua nhạc cụ được phê duyệt cho 20 chùa Khmer và 9 thánh đường Chăm.

Thứ tư, hoạt động tuyên truyền duy trì đều nhưng cường độ thấp. Bình quân mỗi năm chỉ tổ chức 10–12 suất biểu diễn văn nghệ và 8–10 suất chiếu phim phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn 5 huyện – tương đương khoảng 2 suất/huyện/năm. Nếu trình bày dữ liệu này dưới dạng biểu đồ cột kép so sánh số suất biểu diễn với quy mô dân số từng địa bàn, độ chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ văn hóa sẽ hiện rõ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của khoảng cách giữa bảo tồn vật thể và phi vật thể nằm ở ba yếu tố. Yếu tố thứ nhất mang tính đặc thù tôn giáo: giáo lý Islam hạn chế ca hát, nhảy múa, khiến các loại hình ca dao, tục ngữ, hò vè, hát ru chỉ còn một vài nghệ nhân lớn tuổi nắm giữ, trong đó nhiều từ Chăm cổ mà thế hệ trẻ không hiểu. Yếu tố thứ hai là cơ cấu nhân lực: cán bộ người Chăm trong hệ thống quản lý còn quá ít, đội ngũ công chức văn hóa cấp huyện quá mỏng. Yếu tố thứ ba là kinh phí – nguồn lực ở các cấp còn hạn hẹp so với nhu cầu hoạt động.

So sánh với các nghiên cứu cùng hướng, công trình "Văn hóa phi vật thể người Chăm Ninh Thuận" của nhóm Phan Văn Dốp, Phan Quốc Anh, Nguyễn Thị Thu cho thấy Chăm miền Trung – chiếm khoảng 80% tổng số người Chăm Việt Nam – có kho tàng nghệ thuật diễn xướng phong phú hơn hẳn. Chăm An Giang chỉ còn bộ gõ trống Rap-bà-nà. Điều này gợi ý rằng mô hình bảo tồn không thể sao chép nguyên trạng giữa hai vùng.

Điểm sáng đáng ghi nhận là hướng bảo tồn qua thị trường. Nhãn hiệu tập thể "Thổ cẩm Chăm An Giang" được Cục Sở hữu trí tuệ cấp năm 2007; đề án cải tiến khung dệt phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ nâng năng suất lên gấp 3 lần, đầu tư 100 máy thêu và khung dệt, đưa sản phẩm sang Trung Đông, Pháp, Mỹ. Đây là bằng chứng thực nghiệm cho luận điểm lý thuyết "phát huy tốt thì bảo tồn bền vững".

Đề xuất và khuyến nghị

Xây dựng đề án chuyên biệt về di sản văn hóa Chăm giai đoạn 5 năm. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tham mưu UBND tỉnh ban hành một đề án riêng thay vì lồng ghép, với chỉ tiêu cụ thể: hoàn tất kiểm kê 100% loại hình di sản phi vật thể tại 9 palei trong 24 tháng đầu, lập ít nhất 2 hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia.

Khôi phục làng nghề dệt Châu Phong theo mô hình hộ nghệ nhân hạt nhân. UBND thị xã Tân Châu phối hợp Sở Công Thương đặt mục tiêu nâng số hộ giữ nghề dệt truyền thống từ 3 lên tối thiểu 15 hộ trong 3 năm, gắn với cơ chế trợ cấp hằng tháng cho nghệ nhân truyền nghề và cam kết bao tiêu sản phẩm qua kênh du lịch.

Kiện toàn nhân lực quản lý văn hóa vùng dân tộc. Ban Dân tộc tỉnh và Sở Nội vụ xây dựng lộ trình tuyển dụng, quy hoạch cán bộ người Chăm, phấn đấu mỗi xã có đồng bào Chăm bố trí ít nhất 1 công chức văn hóa – xã hội là người dân tộc Chăm hoặc thông thạo tiếng Chăm trong vòng 5 năm; tổ chức tối thiểu 2 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ di sản mỗi năm cho cán bộ cấp huyện, xã.

Số hóa và ký âm khẩn cấp di sản có nguy cơ mai một cao. Bảo tàng An Giang chủ trì ghi âm, ký âm toàn bộ vốn hát ru, dân ca Chăm còn lưu giữ trong cộng đồng, ưu tiên các nghệ nhân trên 70 tuổi, hoàn thành trong 18 tháng; xây dựng cơ sở dữ liệu số truy cập mở phục vụ nghiên cứu và giáo dục.

Phát triển tuyến du lịch di sản Chăm liên hoàn. UBND huyện An Phú và thị xã Tân Châu phối hợp doanh nghiệp lữ hành thiết kế tuyến tham quan kết nối Thánh đường Mubarak – làng dệt Châu Phong – trải nghiệm ẩm thực Chăm (cơm nị, cà ri, tung lò mò, bánh Haklinba), đặt mục tiêu tăng lượng khách đến vùng Chăm mỗi năm và trích một phần doanh thu tái đầu tư quỹ bảo tồn di sản.

Nhân rộng mô hình lớp dạy chữ Chăm tại thánh đường. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh chuẩn hóa chương trình dựa trên bộ giáo trình 5 tập do TS. Phú Văn Hẳn chủ nhiệm, mở rộng mô hình 5 lớp tại thánh đường ấp Khánh Mỹ (xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú) ra toàn bộ 12 thánh đường trong 2 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa và công tác dân tộc. Công chức Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện, Ban Dân tộc các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số tìm thấy ở đây khung 7 bước tổ chức thực hiện chính sách đã được kiểm chứng thực địa, cùng bảng hệ thống văn bản pháp lý có thể dùng làm mẫu khi soạn kế hoạch triển khai tại địa phương mình.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Chính sách công, Quản lý văn hóa. Luận văn cung cấp mẫu thao tác hóa khái niệm chính sách công từ 8 định nghĩa của học giả trong và ngoài nước, cách chuyển từ lý luận sang tiêu chí đánh giá thực trạng. Đây là tài liệu tham khảo cho các đề tài cùng hướng như nghiên cứu về dân tộc Xơ Đăng ở Quảng Nam hay di sản tại thành phố Tam Kỳ.

Doanh nghiệp du lịch và đơn vị phát triển sản phẩm bản địa. Phần mô tả chi tiết 9 palei, 12 thánh đường, hệ thống lễ hội (Ramadan tháng 9 Hồi lịch, Roja ngày 10/12 Hồi lịch) và ẩm thực Chăm là nguồn dữ liệu trực tiếp để thiết kế tour, xây dựng nội dung thuyết minh và phát triển sản phẩm quà tặng từ thổ cẩm.

Cộng đồng Chăm và Ban quản trị thánh đường. Tài liệu giúp cộng đồng nắm rõ quyền lợi, cơ chế hỗ trợ từ chính sách nhà nước, hiểu vai trò chủ thể nắm giữ di sản của mình để chủ động đề xuất, tham gia giám sát các dự án trùng tu, truyền dạy trên địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn nghiên cứu trong phạm vi thời gian và không gian nào? Nghiên cứu khảo sát tình hình thực hiện chính sách từ năm 2000 đến năm 2021, trên địa bàn tỉnh An Giang – nơi có 15.327 người Chăm cư trú tại 5/11 đơn vị hành chính cấp huyện. Trọng tâm khảo sát đặt tại huyện An Phú và thị xã Tân Châu, hai địa bàn tập trung đông người Chăm nhất với 9 palei truyền thống.

Di sản văn hóa Chăm An Giang gồm những loại hình nào? Di sản vật thể gồm kiến trúc thánh đường (12 thánh đường, 16 tiểu thánh đường), nhà sàn gỗ truyền thống và trang phục dệt thủ công. Di sản phi vật thể gồm nghi lễ vòng đời, tiếng nói và chữ viết Chăm, ca dao – hát ru, ẩm thực, nghề dệt thổ cẩm, âm nhạc với trống Rap-bà-nà và ba lễ hội lớn hằng năm.

Vì sao di sản phi vật thể Chăm có nguy cơ mai một cao hơn? Quy định tôn giáo Islam hạn chế ca hát, nhảy múa khiến loại hình diễn xướng dân gian ít có môi trường thực hành. Cùng với đó, thế hệ trẻ không hiểu hết từ Chăm cổ trong các bài hát ru, còn nghề dệt truyền thống bị cạnh tranh bởi sản xuất công nghiệp – hiện chỉ còn 3 hộ ở Châu Phong giữ được kỹ thuật dệt nguyên bản.

Thành tựu nổi bật nhất trong thực hiện chính sách là gì? Việc khôi phục làng nghề dệt Châu Giang từ năm 1997 và xây dựng nhãn hiệu tập thể "Thổ cẩm Chăm An Giang" năm 2007 được đánh giá là bước đột phá. Đề án cải tiến khung dệt phối hợp Đại học Cần Thơ nâng năng suất gấp 3 lần, đầu tư 100 máy thêu và khung dệt, đưa sản phẩm xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, Pháp và Mỹ.

Hạn chế lớn nhất được luận văn chỉ ra là gì? Chưa có văn bản chính sách chuyên biệt cho di sản Chăm – nội dung luôn lồng ghép trong khung chung của 28 dân tộc thiểu số. Kèm theo đó là kinh phí hạn hẹp, thiết chế văn hóa thiếu và không đồng đều, cơ cấu cán bộ người Chăm trong bộ máy quản lý còn quá ít, khiến hiệu quả bảo tồn chưa phủ đều giữa các địa bàn.

Kết luận

  • Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu độc lập việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Chăm ở An Giang dưới góc độ chính sách công, lấp khoảng trống mà các nghiên cứu văn hóa dân gian trước đó chưa chạm tới.
  • Đóng góp lý luận nằm ở việc hệ thống hóa khung 7 bước tổ chức thực hiện chính sách và vận dụng vào một đối tượng đặc thù về tôn giáo – cộng đồng Islam chiếm 0,67% dân số tỉnh.
  • Đóng góp thực tiễn thể hiện qua bức tranh thực trạng có dữ liệu: 86 di tích xếp hạng toàn tỉnh, 12 thánh đường, 9 palei, 3 hộ còn giữ nghề dệt – cơ sở định lượng cho mọi quyết định chính sách tiếp theo.
  • Hệ giải pháp đề xuất bám sát ba trục: hoàn thiện văn bản chuyên biệt, kiện toàn nhân lực người Chăm, và gắn bảo tồn với phát triển du lịch – ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
  • Lộ trình triển khai gợi mở: 18 tháng cho số hóa di sản nguy cấp, 24 tháng cho kiểm kê toàn diện, 3–5 năm cho khôi phục làng nghề và chuẩn hóa nhân lực.

Bạn đọc quan tâm đến chính sách văn hóa vùng dân tộc thiểu số, phát triển du lịch di sản hoặc đang thực hiện đề tài cùng hướng nên tải toàn văn luận văn để khai thác hệ thống phụ lục về di tích, di sản phi vật thể và ẩm thực Chăm An Giang.