CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Mục đích nghiên cứu Hệ thống nhận dạng biển số xe là một ứng dụng dựa trên trên kỹ thuật xử lý ảnh số. Mục đích của nhận dạng biển số xe là thực hiện các bước xử lý để từ một ảnh đầu vào, máy tính có thể nhận ra chính xác biển số xe trên ảnh. Nhận dạng biển số xe trở thành một ứng dụng hữu ích, được đưa vào trong những lĩnh vực như: quản lý giao thông, kiểm tra an ninh, thu phí giao thông, trạm gác cổng, quản lý các bãi giữ xe một cách tự động.2 Đối tượng nghiên cứu Đây là một trong những ứng dụng xử lý ảnh nhận được nhiều sự nghiên cứu về cả hai mặt lý thuyết và thực hiện chương trình. Đề tài của em bao gồm các quá trình xử lý: phân vùng biển số, tách các ký tự và nhận biết các ký tự.3 Phạm vi nghiên cứu Việc có nhiều biển số xe với định dạng và độ sáng khác nhau gây khó khăn cho việ nhận dạng và trích xuất biển số từ ảnh chụp nên độ sáng khác nhau làm tăng độ phức tạp trong quá trình nhận dạng.
Do thời thực hiện đề tài không cho phép nên các biển số xe bị giới hạn với điều kiện như sau: Biển số xe có chữ đen, có Biển số phải còn nguyên vẹn, không bị tróc sơn hay rỉ sét, không bị che khuất. Hình chụp biển số không bị mờm ký tự biển số còn phân biệt, nhận dạng được bằng trực quan. Không bị nhiễu bởi ánh sáng làm ảnh chụp bị chói.4 Ứng dụng của đề tài 1.1 Khái niệm nhận dạng biển số xe 8 Hệ thống nhận dạng biển số xe là hệ hệ thống có khả năng phân tích hình ảnh và xác định biển số trên xe, thông qua video, thiết bị ghi hình và hình ảnh. Sau là xác định thông tin như: chủ sở hữu, … Phân loại ứng dụng nhận dạng biển số xe: Ứng dụng nhận dạng biển số xe là ứng dụng có khả năng phân tích hình ảnh và xác định biển số xe từ các hình ảnh chụp được từ các thiết bị thu hình.
Nguồn hình ảnh cho ứng dụng có rất nhiều. Trong báo cáo tốt nghiệp em chỉ dừng lại ở mức xác định biển số xe (cắt các vùng chữ trên biển) từ các hình ảnh. Có nhiều cách thức khác nhau để phân loại các ứng dụng nhận dạng biển số xe. Một trong những cách đơn giản là phân loại ứng dụng nhận dạng biển số xe thông qua mục đích sử dụng.
Có thể chia ứng dụng nhận dạng biển số xe thành hai loại sau: Loại 1: Giới hạn vùng nhìn Đầu vào: ảnh thu trực tiếp từ các thiết bị ghi nhận ảnh kỹ thuật số. Ảnh được ghi nhận thường chỉ giới hạn trong vùng có biển số xe. Nguyên lý hoạt động: các phương tiện giao thông phải chạy với một tốc độ đủ chậm để máy ghi nhận hình ảnh có thể thu được ảnh vùng biển số xe. Ứng dụng: những ứng dụng nhận dạng biển số xe loại này thường được dùng tại các trạm kiểm soát, các trạm thu phí, các bãi gửi xe tự động, các trạm các cổng… 9 Hình 1.1 - Hệ thống tự động nhận dạng biển số xe Loại 2: Không giới hạn vùng nhìn Đầu vào: ảnh đầu vào thu được từ thiết bị ghi hình tự động, không phụ thuộc vào góc độ, các đối tượng xung quanh, ảnh không cần bắt buộc chỉ chụp vùng chứa biển số xe, mà có thể là ảnh tổng hợp như chứa thêm các đối tượng như người, cây, đường phố, … miễn là vùng biển số phải đủ rõ để có thể nhận dạng được ký tự trong vùng đó.
Nguyên lý hoạt động: do đặc tính không giới hạn vùng nhìn mà ảnh đầu vào có thể thu được từ một thiết bị ghi hình (camera, máy ảnh). Và do đó, công việc đầu tiên là dò tìm trong ảnh, để xác định đúng vùng nào là biển số xe. Sau đó, thực hiện tách vùng và nhận dạng. Cuối cùng tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà kết quả nhận dạng được truyền đi hay lưu trữ để phục vụ nhu cầu của người dùng cuối.
Ứng dụng: vì không phụ thuộc vào phạm vi hình ảnh thu được nên có thể dùng ứng dụng tại nhiều nơi như tại những điểm điều tiết giao thông, tại các vị trí nhạy cảm của giao thông như ngã ba, ngã tư đường giao nhau. Kiểm soát, phát hiện những hành vi vi phạm an toàn giao thông.2 Ứng dụng Hệ thống nhận dạng biển số xe được xây dựng nhằm mục đích giám sát, kiểm soát các phương tiện. Dưới đây đề cập đến một số ứng dụng phổ biến đối với hệ thộng nhận dạng biển số xe: - Thu phí giao thông: Lắp đặt hệ thống nhận dạng biển số xe tại các trạm thu phí nhằm hỗ trợ hoặc tự động hóa công tác thu phí. - Kiểm soát xe tại các đường biên giới: Mỗi quốc gia đều có những quy định riêng về biển số xe, để phục vụ công tác quản lý và phát hiện những phương tiện giao thông vượt biên bất hợp pháp.
Việc lắp đặt hệ thống nhận dạng biển số xe tại các trạm kiểm soát sẽ góp phần hỗ trợ công tác kiểm tra và an ninh quốc gia. - Các trạm gác cổng: Việc lắp đặt hệ thống sẽ hỗ trợ hoặc tự động hóa công tác mở cổng cho xe ra vào. - Xử lý vi phạm giao thông: Khi lắp đặt hệ thống sẽ hỗ trợ việc xử lý vi phạm giao thông đường bộ và có thể tự động báo lỗi vi phạm. 11 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Học sâu Học sâu (deep learning) là một nhánh của ngành máy học, dựa trên một tập hợp các thuật toán để cố gắng mô hình dữ liệu để trừu tượng hóa ở mức cao bằng cách sử dụng nhiều lớp xử lý với cấu trúc phức tạp, hoặc bằng cách khác bao gồm nhiều lớp biến đổi phi tuyến để trích tách đặc trưng và chuyển đổi.
Mỗi lớp kế tiếp dùng đâu ra của lớp trước làm đầu vào. Các thuật toán này có thể được giám sát hoặc không cần giám sát và các ứng dụng bao gồm các mô hình phân tích (không giám sát) và phân loại (giám sát). Một trong những phương pháp học sâu thành công nhất là mô hình mạng nơ- ron nhân tạo 2.2 Mạng nơ-ron nhân tạo Mạng nơron nhân tạo, Artificial Neural Network (ANN) gọi tắt là mạng nơron (neural network) là một mô hình xử lý thông tin được xây dựng dựa theo cách thức xử lý thông tin của các hệ nơron sinh học. Trong hơn hai thập kỷ qua nó là lĩnh vực khoa học được nhiều người quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi.
Mạng nơron được tạo nên từ một số lượng lớn các phần tử (gọi là phần tử xử lý hay nơron) kết nối với nhau thông qua các liên kết (gọi là trọng số liên kết) làm việc như một thể thống nhất để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Một nơron là một đơn vị xử lý thông tin và là thành phần cơ bản của một mạng nơron.1 Kiến trúc mạng nơ- ron Mạng Neural Network là sự kết hợp của của các tầng perceptron hay còn được gọi là perceptron đa tầng (multilayer perceptron) Mỗi một mạng Neural Network thường bao gồm 3 kiểu tầng là: 12 Tầng input layer (tầng vào): Tầng này nằm bên trái cùng của mạng, thể hiện cho các đầu vào của mạng. Tầng output layer (tầng ra): Là tầng bên phải cùng và nó thể hiện cho những đầu ra của mạng. Tầng hidden layer (tầng ẩn): Tầng này nằm giữa tầng vào và tầng ra nó thể hiện cho quá trình suy luận logic của mạng.
Mỗi một Neural Network chỉ có duy nhất một tầng vào và một tầng ra nhưng lại có rất nhiều tầng ẩn. Hình Kiến trúc mạng nơ-ron nhân tạo Mặc dù mỗi nơron đơn lẻ có thể thực hiện những chức năng xử lý thông tin nhất định, sức mạnh của tính toán nơron chủ yếu có được nhờ sự kết hợp các nơron trong một kiến trúc thống nhất. Một mạng nơron là một mô hình tính toán được xác định qua các tham số: kiểu nơron (như là các nút nếu ta coi cả mạng nơron là một đồ thị), kiến trúc kết nối (sự tổ chức kết nối giữa các nơron) và thuật toán học (thuật toán dùng để học cho mạng). Về bản chất một mạng nơron có chức năng như là một hàm ánh xạ F: X → Y, trong đó X là không gian trạng thái đầu vào (input state space) và Y là không gian trạng thái đầu ra (output state space) của mạng.
Các mạng chỉ đơn giản là làm nhiệm vụ ánh xạ các vectơ đầu vào x ∈ X sang các vec-tơ đầu ra y 13 ∈ Y thông qua “bộ lọc” (filter) các trọng số. Tức là y = F(x) = s(W, x), trong đó W là ma trận trọng số liên kết. Hoạt động của mạng thường là các tính toán số thực trên các ma trận. Một nơ-ron bao gồm các liên kết nhận tín hiệu vào bằng số có các trọng số kết nối w tương ứng, một hàm tổng và một hàm truyền còn gọi là hàm kích hoạt để tạo tín hiệu ra dựa trên giá trị hàm tổng và giá trị ngưỡng θ.
Liên kết: Mỗi liên kết thứ i sẽ nhận vào giá trị x i có trọng số kết nối w i tương ứng. Trọng số kết nối: Các trọng số kết nối của đường liên kết là yếu tố then chốt của nơ-ron, chúng ta sẽ được xác định tùy theo tập dữ liệu nhờ quá trình huấn luyện. Hàm tổng: Hàm tổng là tổng của tích các trọng số kết nối với các tín hiệu vào trên các liên kết tương ứng: n s = ∑ wi xi i=1 Với a i là giá trị nhập hoặc giá trị xuất của một nút có cùng kết nối với nút j và trọng số kết nối là w ij. Trong bộ não của con người, các tế bào nơron liên kết với nhau chằng chịt và tạo nên một mạng lưới vô cùng phức tạp, tuy nhiên mạng nơron nhân tạo được chia thành các loại chính sau: Hình Mạng nơron chỉ có 1 nút và có sự phản hồi 14 Mạng nơron truyền thẳng một lớp (perceptron) là loại mạng chỉ có lớp nơron đầu vào và một lớp nơron đầu ra (thực chất lớp nơron đầu vào không có vai trò xử lý, do đó ta nói mạng chỉ có một lớp).
Loại mạng này còn được gọi là mạng perceptron một lớp. Mỗi nơron đầu ra có thể nhận tín hiệu từ các đầu vào x1, x2, …, xm để tạo ra tín hiệu đầu ra tương ứng.