CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên cơ sở thông tin kế toán với chức năng mô tả tình hình tài chính, có thể đánh giá tình hình hoạt động trong quá khứ và hiện tại, nguồn tài chính dự kiến và khả năng hoạt động trong tương lai của đơn vị, do đó giúp các nhà quản lý lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, điều hành và giám sát các hoạt động tại đơn vị, giúp các nhà đầu tư, người sử dụng thông tin kế toán có thể đưa ra các quyết định đầu tư tài chính phù hợp. Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về các vấn đề nghiên cứu sau: (1) Tổng quan đo lường CLTT BCTC; (2) Tổng quan về các công trình nghiên cứu trên thế giới; (3) Tổng quan về các công trình nghiên cứu trong nước và (4) Các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BCTC: Ngày càng nhiều tổ chức tin rằng, thông tin chất lượng là yếu tố quan trọng cho sự thành công của đơn vị họ (Wang et al. 1998), nếu không có thông tin kế toán chất lượng sẽ trở nên vô dụng đối với người dùng và có thể dẫn đến việc ra quyết định sai (Kieso et al.
Nói cách khác, nếu thông tin trong tổ chức có chất lượng tốt thì tổ chức sẽ hoạt động tốt, và ngược lại nếu thông tin có chất lượng kém, nó sẽ đe dọa đến sự tồn tại của tổ chức, do đó chất lượng thông tin rất quan trọng vì sự bền vững của một tổ chức (Ismail 2009; Redman, 1992; Laudon & Laudon 2007, Komala 2012). Tổng quan đo lường Chất lượng thông tin báo cáo tài chính: Chất lượng thông tin báo cáo tài chính được đo lường thông qua thành phần cấu tạo của BCTC (Jone, 1991; Dechow và cộng sự, 1995; Dechow & Dichev, 2002; Schipper và Vincent, 2003; Kothari và cộng sự, 2005; Yoon, 2006). Tùy thuộc vào đặc điểm, mục tiêu nghiên cứu có nhiều cách thức khác nhau được sử dụng để đánh giá CLTT BCTC (Yijiang Zhao, 2005; Andra Gajevszky, 2015). Đồng thời, Geert Braam và Ferdy van Beest (2013) đã nhấn mạnh: Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu về CLTT BCTC là tìm hiểu phương thức xác định và đánh giá CLTT BCTC.
Phương pháp để đo lường CLTT BCTC, dựa trên các thuộc tính về CLTT được quy định bởi các tổ chức nghề nghiệp (IFRS Framework, FASB Conceptual Framework) hoặc của Nhà nước về kế toán. 7 Theo Chuẩn mực chung về BCTC hay gọi là Khung Khái niệm được IASB ban hành vào tháng 9/2010, thông tin chất lượng là thông tin hữu ích giúp người sử dụng thông tin ra quyết định và các đặc điểm định tính của thông tin hữu ích là thông tin có tính thích hợp và trình bày trung thực. Chất lượng hay tính hữu ích của thông tin được nâng cao nếu thông tin có thêm đặc điểm định tính như có thể so sánh được, kịp thời và dễ hiểu. Thông tin có thể kiểm chứng được lại được xác định thông qua các đặc điểm định tính như thông tin chú trọng bản chất hơn hình thức, khách quan, thận trọng, đầy đủ, không sai lệch trọng yếu.
(Phạm Quốc Thuần, 2016) Vào năm 1966, AAA đã công bố một báo cáo về nền tảng lý thuyết của kế toán - A statement of Basic Accounting Theory (Paul E. Fertig, 1967) nhằm thiết lập những điều cơ bản của lý thuyết kế toán. Trong báo cáo này, AAA cho rằng tính hữu ích (Usefulness), được xác định bởi người sử dụng là tiêu chí để đánh giá bao quát thông tin (AAA, 1966). AAA (1966) cũng khuyến cáo rằng tính Thích hợp (Relevance), tính có thể xác minh được (Verifiability), Không sai lệch (Freedom from bias) và khả năng xác định số lượng (Quantifiability) được xem như là những tiêu chuẩn để đảm bảo thông tin kế toán hữu ích.
Như vậy, trong những năm 60, sự hữu ích của thông tin kế toán được xem là tiếp cận đầu tiên của nền tảng lý thuyết về CLTT BCTC. Công bố của AAA (1966) đã được ca ngợi là một bước khởi điểm cho những hướng nghiên cứu hướng về CLTT kế toán sau này (Hicks 1966). Tuy nhiên công bố này vẫn còn nhiều hạn chế vì không cung cấp một danh sách đầy đủ các thuộc tính cần thiết có liên quan đến tính hữu ích của thông tin kế toán (Snavely, 1967). Phải đến năm 1980, FASB mới đưa ra một công bố chi tiết về những thuộc tính cụ thể nhằm đảm bảo tính hữu ích của thông tin BCTC (FASB, 1980).
Về phía IASC được thành lập, cụ thể từ năm 1973 - 1989 là giai đoạn đầu của hòa hợp kế toán quốc tế. Hòa hợp ở giai đoạn này chủ yếu là thu hẹp sự khác biệt kế toán các quốc gia bằng việc áp dụng Chuẩn mực kế toán (CMKT) cho phép nhiều sự lựa chọn nhằm thích nghi kế toán ở các quốc gia. Tuy nhiên, chính sự “dễ dãi” này của IASC đã không đáp ứng được thông tin trên BCTC cho người sử dụng. Trước sức ép của những người sử dụng thông tin trên BCTC cũng như 8 tìm kiếm sự ủng hộ của các quốc gia và các tổ chức trên thế giới, giai đoạn 1989 -1993, IASC đã có nhiều sự cải thiện đáng kể bằng việc giảm dần sự lựa chọn các phương pháp, nguyên tắc trong CMKT.
Do giảm các lựa chọn nên các CMKT của IASC đã đảm bảo tính so sánh thông tin trên BCTC. Sau đó, giai đoạn 1993 - 2001, IASC đã tái cấu trúc để hình thành Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Mục đích của IASB nhằm phát triển hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế, hình thành kỷ nguyên mới hướng tới hội tụ kế toán toàn cầu. KHUÔN MẪU CỦA ỦY BAN CHUẨN MỰC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CỦA HOA KỲ (FASB): Báo cáo khung các khái niệm kế toán tài chính số 2, do Ban Chuẩn mực Kế toán Tài chính của Hoa Kỳ (FASB) ban hành tháng 5/1980: Khung khái niệm có thể được xem như một cơ sở để xác định bản chất và mục đích của kế toán.
Khung khái niệm phải xem xét đến các vấn đề về nhận thức và lý thuyết xung quanh việc lập BCTC và thiết lập một nền tảng nhất quán và chặt chẽ làm cơ sở cho sự phát triển của các chuẩn mực kế toán. Và có thể được xem là một báo cáo về các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) giúp định hình một khuôn khổ để tham khảo cho quá trình đánh giá các nguyên tắc hiện tại và phát triển các nguyên tắc mới. Vì mục đích của lập BCTC là cung cấp thông tin hữu ích làm cơ sở để ra các quyết định kinh tế nên khung khái niệm sẽ thiết lập một nền tảng lý thuyết để xác định cách thức đo lường (theo giá gốc hay theo giá hiện hành) và báo cáo các sự kiện cũng như giao dịch - chúng được trình bày và chuyển tới người sử dụng bằng cách nào. Một số kế toán viên đã đặt câu hỏi rằng liệu khung khái niệm có cần thiết để có thể tạo ra các BCTC đáng tin cậy hay không.
Lịch sử phát triển của các cơ quan thiết lập chuẩn mực trên khắp thế giới đã cho thấy điều đó thực sự là cần thiết. Nếu không có khung khái niệm, các chuẩn mực kế toán thường bị mắc phải các thiếu sót và sai lầm nghiêm trọng sau: - Chúng không nhất quán với nhau đặc biệt là vai trò của nguyên tắc thận trọng và nguyên tắc dồn tích/ phù hợp. 9 - Chúng cũng không nhất quán về mặt nội bộ và thường những tác động của các giao dịch lên bảng cân đối kế toán được xem là quan trọng hơn so với tác động lên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. - Các chuẩn mực được thiết lập trên cơ sở “chữa cháy”, tức là để đối phó lại với các sự cố hay các vụ bê bối của DN chứ không phải tiên phong thực hiện để xác định chính sách tốt nhất.
- Một số cơ quan thiết lập chuẩn mực có xu hướng thiên vị các chuẩn mực do họ thiết lập (dẫn đến không công bằng cho tất cả các đối tượng sử dụng) và điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và định hướng của các chuẩn mực. - Các vấn đề lý thuyết giống nhau được xem nhiều lần trong các chuẩn mực liên tiếp - ví dụ, một giao dịch này làm tăng tài sản (chi phí nghiên cứu và phát triển) hoặc nợ (dự phòng môi trường)? Như vậy, từ những liệt kê trên ta thấy việc thiếu một khung khái niệm dẫn đến việc xuất hiện ngày càng nhiều của các hệ thống hạch toán kế toán dựa trên quy tắc với mục tiêu chủ yếu là hạch toán tất cả các giao dịch kế toán theo các quy định hoặc quy tắc cụ thể. Hệ thống này rất cứng nhắc và kém linh hoạt. Ngược lại, sự xuất hiện của khung khái niệm có thể tạo ra một hệ thống “dựa trên nguyên tắc” trong đó các chuẩn mực kế toán được phát triển từ một cơ sở khái niệm đã được thống nhất với các mục tiêu cụ thể.
Nội dung của Khung khái niệm có thể được tóm tắt như sau: - Xác định mục tiêu của các BCTC; - Đơn vị báo cáo (phát hành); - Xác định các đối tượng sử dụng BCTC; - Các đặc trưng định tính làm cho các BCTC trở nên hữu ích; - Các nội dung còn lại của khung khái niệm liên quan đến các yếu tố của BCTC bao gồm: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí và khi nào thì các yếu tố đó được ghi nhận cũng như cách thức đo lường ra sao và các khái niệm liên quan đến bảo toàn vốn. Nghiên cứu này có tác giả Nasrin Azar và cộng sự (2019): Tác giả đã đánh giá các đặc điểm định tính của thông tin kế toán được rút ra từ Ủy ban Chuẩn mực kế toán tài chính (FASB)/Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Và 10 xem xét đến giá trị liên quan và báo cáo mối liên hệ giữa số liệu kế toán và định giá vốn chủ sở hữu chung. Có ý nghĩa hoặc hạn chế đối với người sử dụng thông tin kế toán.
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG VIỆT NAM Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong xây dựng các quy định trong lĩnh vực kế toán công theo hướng hòa nhập với các thông lệ quốc tế, song vẫn còn khoảng cách nhất định với thông lệ quốc tế. Việc ban hành hệ thống các chuẩn mực kế toán công sẽ tạo ra một môi trường pháp lý quan trọng cho lĩnh vực kế toán nhà nước, góp phần quản lý, quản trị ngày càng tốt hơn nền tài chính quốc gia.