Phần mở đầu này sẽ tập trung giới thiệu về một cách tiếp cận dạy học môn TTA đó là dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL). Dạy học theo cách tiếp cận CLIL có những đặc điểm sau: - Vừa trang bị kiến thức văn hoá, vừa trang bị ngôn ngữ cho HS. - HS được phát triển k năng giao tiếp liên văn hoá trong giờ học. - HS được tiếp xúc nhiều hơn với ngôn ngữ chuyên ngành.
- Tăng động lực và sự tự tin cho HS trong cả nội dung được dạy và ngoại ngữ. [15] Các khái niệm ban đầu của CLIL đã được sử dụng để chỉ định các môn học dạy học cho sinh viên thông qua một ngôn ngữ nước ngoài. Theo Marsh: Sự khởi động CLIL tại châu Âu trong những năm 1994 mang theo cả tính ch t chính trị và dạy học; cụm từ CLIL đã được sử dụng hầu hết để chỉ các nền dạy học có sự tích hợp về nội dung và ngôn ngữ (Marsh, 2010). [30] Phần lớn các cách tiếp cận được bàn luận trong sách này đã được hoàn thiện ở các trường trung học và chỉ một số ít quốc gia như Áo, Phần Lan, Hungary và Tây Ban Nha hoàn thiện ở c p học sớm hơn (Kovács 2014, tr.
[26] Thập niên cuối của thế kỉ XX đã chứng kiến sự phát triển mạnh trong những nghiên cứu về CLIL, mặc dù đã có sự tập trung hơn về v n đề ngoại ngữ thay vì các yếu tố phi ngoại ngữ trong CLIL (Marsh, 2010, tr. Các phần sau của chương sẽ giới thiệu rõ hơn cách tiếp cận dạy học CLIL. Khái niệm và mô hình về CLIL CLIL (viết tắt Content and Language Integrated Learning) hay Dạy học t ch hợp nội dung và ngôn ngữ, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Sau đây là một vài định nghĩa trong số đó.
2002 2006 2007 2009 Một cách tiếp cận Một phương pháp Một thuật ngữ Một định hướng dạy học. có thể dạy học.Mục tiêu “chiếc ô” được sử giáo dục để dạy và liên quan đến các là học tập kiến dụng để nói về các học các môn học ngôn ngữ; kiến thức, môn chuyên tình huống giáo thông qua một thức, hiểu biết và ngành cùng với dục song ngữ. ngôn ngữ không các k năng liên học tập một ngoại (Gajo, 2007) phải tiếng m đẻ. văn hoá; chuẩn bị ngữ.
(TKT: CLIL cho việc quốc tế (Van de Craen, Handbook) hoá và sự tiến bộ 2006) của chính bản thân nền giáo dục đó. (Marsh, 2002) Như vậy, có thể hiểu CLIL là một định hướng hoặc phương pháp dạy học trong đó tích hợp việc dạy nội dung của chương trình học với việc dạy một ngôn ngữ không phải tiếng m đẻ. (Bentley, 2010 [15]; Đào Thị Hoàng Hoa, 2014 [8]) Theo (Bentley, 2010) , các giáo viên CLIL có thể là giáo viên môn chuyên ngành, giáo viên ngoại ngữ, giáo viên tiểu học hay trợ giảng. Những giáo viên khác nhau đối mặt với các thử thách không giống nhau.
Giáo viên ngoại ngữ cần học thêm về kiến thức chuyên môn còn giáo viên môn chuyên ngành cần học thêm về ngoại ngữ cho môn học của họ. Đôi khi có sự hợp tác giữa giáo viên ngoại ngữ và giáo viên bộ môn. Khi sử dụng CLIL cả người dạy và người học thu được r t nhiều lợi ích. Người học sẽ biết thêm những khái niệm mới được định nghĩa trong ngôn ngữ nước ngoài.
Từ đó họ sẽ phát triển được k năng giao tiếp, cộng đồng, tư duy. Người dạy cũng được củng cố thêm về từ vựng và mở mang kiến thức hơn. [15] 5 z Mô hình CLIL thường được dùng để chỉ một loạt những tình huống và mô hình dạy học khác nhau. Ba mô hình CLIL có thể có: CLIL mềm, CLIL cứng, và CLIL theo mô- đun.
Đầu tiên về mô hình CLIL mềm: Dạy các chủ đề môn chuyên như là một phần của khoá học ngoại ngữ, tức là ngôn ngữ chủ đạo. Mô hình CLIL cứng: Dạy các chương trình tích hợp một phần, nghĩa là gần một nửa chương trình học được dạy bằng ngoại ngữ, tức là môn chuyên chủ đạo. Mô hình CLIL theo mô- đun: Các môn học như khoa học hay nghệ thuật được dạy trong một số giờ học nh t định bằng tiếng nước ngoài.1 sẽ trình bày rõ hơn về so sánh ba mô hình nói trên. Các mô hình CLIL CLIL mềm Dạng CLIL Thời gian Mô hình Ngôn ngữ chủ 45 phút 1 Một số chủ đề môn chuyên được đạo tuần dạy suốt khoá học ngoại ngữ Môn chuyên 15 giờ suốt Chọn những phần của chương trình chủ đạo (mô- một học kỳ môn chuyên để dạy bằng ngoại đun) ngữ.
Môn chuyên Khoảng 50% Khoảng một nửa chương trình học chủ đạo (tích chương trình được dạy bằng ngoại ngữ. Nội hợp một phần) học dung học có thể là những gì đã được dạy bằng ngôn ngữ thứ nh t hoặc là một nội dung hoàn toàn CLIL cứng mới. Nội dung và ngôn ngữ trong dạy học môn Toán Tiếng Anh theo cách tiếp cận CLIL Nội dung môn học là quan trọng nh t trong CLIL. Trong môn Toán các khái niệm và kiến thức cần phải chuẩn xác.
Vì vậy, khi dạy môn Toán bằng ngôn ngữ khác không phải tiếng m đẻ mà cụ thể là tiếng Anh thì càng cần chuẩn kiến thức 6 z chuyên môn. Người dạy có thể so sánh khái niệm và tính ch t giữa các v n đề Toán học của trong và ngoài nước. Từ đó người học sẽ mở mang thêm kiến thức về môn Toán. Cả hai nội dung môn học và tiếng Anh được khám phá trong một bài học CLIL.
Một bài học không được xa cách tiếp cận nhân văn, giao tiếp, và từ vựng trong giảng dạy tiếng Anh, và nhằm mục đích hướng dẫn xử lý ngôn ngữ và hỗ trợ phát triển ngôn ngữ bằng đọc hoặc nghe những văn bản và c u trúc tiếng nói và chữ viết.[13] Đối với GV cần chú ý các đặc điểm sau: - Tích hợp ngôn ngữ và k năng, và các k năng tiếp thu hiệu quả. - Bài học thường dựa vào việc đọc sách hoặc nghe các văn bản, đoạn. - Trọng tâm ngôn ngữ trong bài học không xem x t phân loại c u trúc. - Ngôn ngữ là chức năng và quyết định bởi bối cảnh của đối tượng.[13] - Ngôn ngữ được tiếp cận từ vựng hơn là ngữ pháp.
- Các loại nhiệm vụ cần dựa trên phong cách người học. Ngôn ngữ theo cách tiếp cận CLIL, Toán học đã được coi là lĩnh vực có nhu cầu ngôn ngữ tối thiểu. Mặc dù vậy, nhưng để giải quyết v n đề của Toán học các HS phải có k năng trong việc sử dụng ít nh t các căn bản ngôn ngữ của Toán học. Các ngôn ngữ của Toán học bao gồm từ vựng chuyên ngành và bình luận kết quả.
Nó cũng có thể kết hợp từ vựng hàng ngày, những từ đó sẽ mang nghĩa khác nhau trong Toán học. Ví dụ như từ function trong Toán học là hàm số, còn ngoài đời sống nghĩa là chức năng, nhiệm vụ. [9] Việc sử dụng ngôn ngữ Toán học ở các nước khác nhau cũng có điểm khác nhau. Ví dụ, d u phẩy được dùng để ngăn cách phần thập phân của các số, trong khi nước khác dùng d u ch m.
Những điểm khác nhau y đòi hỏi người học phải tích cực học tập, tích lu kinh nghiệm. Ngoài ra người học còn gặp khó khăn trong giải quyết v n đề Toán học và trình bày bài bằng tiếng Anh. Để giải quyết khó khăn trên cần đòi hỏi sự cố gắng từ hai phía người dạy và người học. GV sử dụng các phương pháp, k thuật dạy học, có nền tảng về ngữ pháp tiếng Anh tốt, và từ vựng chuyên ngành tốt.
HS cũng cần trau dồi cho mình kiến thức về từ vựng chuyên ngành và c u trúc câu trong tiếng Anh. 7 z Khi học môn học qua tiếng Anh, mỗi đề tài học tập của môn khoa học bắt buộc sử dụng tiếng Anh học thuật, HS có nhu cầu tìm hiểu và trình bày các v n đề thuộc môn học cần đến biết cả ngôn ngữ trình bày khoa học và cả tiếng Anh giao tiếp. Hai loại ngôn ngữ này được gọi là ngôn ngữ nội dung- bắt buộc (Content- obligatory language) và ngôn ngữ nội dung – tương thích (Content – compatible language). + Ngôn ngữ nội dung – bắt buộc (Content-obligatory language) [23] Mỗi môn học bắt buộc sử dụng ngôn ngữ riêng liên quan đến nội dung khoa học, cụ thể là từ vựng, thuật ngữ, c u trúc ngữ pháp cần đến để: - Học các chủ đề trong chương trình môn học.
- Tiếp thu và trình bày kiến thức chủ đề. - Thực hiện các nhiệm vụ trong lớp học. + Ngôn ngữ nội dung – tương thích (Content – compatible language) Ngôn ngữ nội dung – tương thích là ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày mà học sinh có thể học trong các lớp tiếng Anh thông thường, những ngôn ngữ này giúp học sinh tìm hiểu và trình bày đầy đủ hơn nội dung môn khoa học.[13] Ví dụ, GV Toán có thể xác định các ngôn ngữ sau đây để tìm hiểu về đồ thị tuyến tính. Xác định ngôn ngữ trong dạy học môn khoa học bằng tiếng Anh Ngôn ngữ nội dung - bắt buộc Ngôn ngữ nội dung – tương thích Content-obligatory language Content – compatible language đồ thị tuyến tính, đồ thị không tuyến tính Giống, khác linear graph, non-linear graph the same, different đồ thị tuyến tính thẳng, đồ thị cong đường, điểm straight- linear graph, curved graph line, point trục x, toạ độ x số x- axis, x coordinate numbers trục y, toạ độ y bảng chữ cái y – axis, y coordinate letters of the alphabet 8 z hệ trục toạ độ x, y (giải thích) nghĩa là.
the x and y axes (explaining) this means. tìm toạ độ điểm thuộc đồ thị plot the coordinates on the graph (Nguồn: ESOL Examinations, 2010, [23]) 1. Những thách thức và giải pháp khi dạy học theo cách tiếp cận CLIL Theo cuốn “Teaching Maths through English- a CLIL approach” của trường Đại học Cambridge có viết r t rõ về những thách thức và giải pháp khi dạy học TTA theo cách tiếp cận CLIL. [23] - Thách thức và giải pháp dành cho giáo viên Giáo viên bộ môn cần cảm th y tự tin về trình độ tiếng Anh của mình, đặc biệt nếu họ không sử dụng tiếng Anh thường xuyên.
Ví dụ, trong môn Toán GV bộ môn cần phải: + Có thể trình bày và giải thích các khái niệm trong lĩnh vực chủ đề của họ một cách rõ ràng và chính xác. + Kiểm tra phát âm từ vựng cụ thể theo chủ đề có thể trông giống với các từ khác trong tiếng Anh nhưng có cách phát âm khác nhau.