Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động xuất khẩu sản phẩm cao su và sự cần thiết đầy mạnh xuất khẩu cao su sang thị trường Ấn Độ. Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm cao su Việt Nam sang thị trường Ấn Độ giai đoạn 2012-2016 Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cao su Việt Nam sang thị trường Ấn Độ giai đoạn 2018-2022. 5 Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Quý Thầy, Cô giáo trường Đại học Ngoại Thương – Cơ sở 2 tại TP.HCM đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp những kiến thức nền tảng cho tác giả trong suốt thời gian qua. Đặc biệt, tác giả xin cảm ơn PGS, TS.
Nguyễn Thanh Bình là người trực tiếp hướng dẫn tận tình và chỉ bảo tác giả trong suốt thời gian hoàn thành luận văn. Do hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu và khả năng kiến thức nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, vì vậy, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía Quý Thầy, Cô và bạn đọc nhằm giúp cho luận văn được hoàn thiện hơn. 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU SẢN PHẢM CAO SU VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CAO SU SANG THỊ TRƢỜNG ẤN ĐỘ 1. Những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu sản phẩm cao su 1.
Khái niệm, hình thức và vai trò của xuất khẩu 1. Khái niệm Việc xuất khẩu có nghĩa là vận chuyển các hàng hóa và dịch vụ ra khỏi thẩm quyền của một quốc gia. Người bán hàng hóa, dịch vụ đó được gọi là một nhà xuất khẩu và có trụ sở tại nước xuất khẩu trong khi người mua ở nước ngoài có trụ sở được gọi là nhập khẩu. Trong thương mại quốc tế, "xuất khẩu" đề cập đến việc bán hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước đến thị trường khác (Joshi, Rakesh Mohan, 2005, International Marketing, tr.
503-520) Theo điều 28, Luật Thương mại Việt Nam 2005, Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển. từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các nước, cho đến nay nó đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều hình thức. Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010, Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường Mỹ, tr.
Một số hình thức xuất khẩu Với mục tiêu là đa dạng hóa các hình thức kinh doanh nhằm phân tán và chia sẻ rủi ro, các doanh nghiệp xuất khẩu cao su có thể lựa chọn nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau. Một số hình thức xuất khẩu thường được các doanh nghiệp lựa chọn. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình. Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu thường 7 cao hơn các hình thức khác do không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian.
Với vai trò là người bán trực tiếp, đơn vị ngoại thương có thể nâng cao uy tín của mình. Tuy vậy, nó đòi hỏi đơn vị phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro. Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là việc cung ứng hàng hoá ra thị trường nước ngoài thông qua các trung gian xuất khẩu như người đại lý hoặc người môi giới. Đó có thể là các cơ quan, văn phòng đại diện, các công ty uỷ thác xuất nhập khẩu.
Xuất khẩu gián tiếp sẽ hạn chế mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuất khẩu, đồng thời khiến nhà xuất khẩu phải chia sẻ một phần lợi nhuận cho người trung gian. Tuy nhiên, trên thực tế phương thức này được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là ở các nước kém phát triển, vì các lý do: Người trung gian thường hiểu biết rõ thị trường kinh doanh còn các nhà kinh doanh thường rất thiếu thông tin trên thị trường nên người trung gian tìm được nhiều cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn. Người trung gian có khả năng nhất định về vốn, nhân lực cho nên nhà xuất khẩu có thể khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải. (Lê Ngọc Hải, 2013) Xuất khẩu ủy thác Xuất khẩu uỷ thác là hình thức xuất khẩu trong đó doanh nghiệp xuất khẩu đóng vai trò trung gian, đại diện cho nhà sản xuất, kí kết hợp đồng xuất khẩu và làm thủ tục xuất khẩu, sau đó doanh nghiệp được hưởng % theo lợi nhuận hoặc một số tiền nhất định, theo thương vụ hay theo kì hạn.
Hình thức này có thể phát triển mạnh khi doanh nghiệp đại diện cho người sản xuất có uy tín và trình độ nghiệp vụ cao trên thị trường quốc tế. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người mua đồng thời là người bán, lượng hàng trao đổi với nhau có giá trị tương đương, người ta còn gọi phương thức này là xuất khẩu liên kết hoặc phương thức hàng đổi hàng. Phương thức này thông thường được thực hiện nhiều ở các nước đang phát triển, các nước này hầu như là rất thiếu ngoại tệ cho nên thường dùng phương pháp hàng đổi 8 hàng để cân đối nhu cầu trong nước. Phương thức này tránh được rủi ro do biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường nhưng nhược điểm của phương thức này là thời gian trao đổi (thanh toán trên thị trường) lâu, do vậy không kịp tiến độ sản xuất mất cơ hội kinh doanh và phương thức này không linh hoạt (cứng nhắc).
Xuất khẩu theo nghị định thư Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là trả nợ) được ký theo nghị định thư giữa hai chính phủ. Xuất khẩu theo nghị định thư có nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán chắc chắn (do Nhà nước trả cho đơn vị xuất khẩu), giá cả hàng hóa tương đối cao, việc sản xuất thu mua có nhiều ưu tiên. Thực tế là hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu ít còn áp dụng hình thức này. Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức mới và đang phổ biến rộng rãi.
Đặc điểm của hình thức này là hàng hoá không bắt buộc vượt qua biên giới quốc gia mới đến tay khách hàng. Do vậy giảm được chi phí cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hoá. Các thủ tục trong hình thức này cũng đơn giản hơn, trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải có hợp đồng phụ trợ như: hợp đồng vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan. Xuất khẩu gia công uỷ thác Xuất khẩu gia công uỷ thác là một hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp uỷ thác.
Khi thực hiện hình thức này có thể: dựa vào vốn của người khác để kinh doanh thu lợi nhuận, rủi ro ít và chắc chắn được thanh toán, nhập được những trang thiết bị công nghệ cao tạo nguồn vốn để xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, khi giá gia công rẻ mạt, khách hàng không biết đến người gia công, không nắm được nhu cầu thị trường vì vậy nên không thể điều chỉnh sản phẩm kinh doanh phù hợp. Vai trò Đối với nền kinh tế thế giới: Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế. Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà mình có lợi thế.
Xét trên tổng thể nền kinh 9 tế thế giới thì chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sẽ làm cho việc sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn và tổng sản phẩm xã hội toàn thế giới tăng lên. Bên cạnh đó xuất khẩu góp phần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế giữa các quốc gia. Đối với nền kinh tế quốc dân: Xuất khẩu tạo ngoại tệ quan trọng, chủ yếu để quốc gia thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tĩch luỹ để phát triển sản xuất. Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như một yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế.
Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu, gây phản ứng dây chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kết quả tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh. Xuất khẩu kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sản xuất. Đối với doanh nghiệp: Qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện tác phong quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Giới thiệu chung về cao su thiên nhiên Cây cao su có tên khoa học là Hevea Brasiliensis, có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ. Chất nhựa của cây (latex) còn được gọi là mủ, là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra các sản phẩm cao su tự nhiên. Cây cao su có vòng đời khoảng 26-30 năm, được chia làm 2 thời kỳ: Thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh.
Thời kì kiến thiết cơ bản tính từ khi bắt đầu trồng đến khi cây được khoảng 5-7 năm tuổi là thời gian có thể bắt đầu đưa vào khai thác cạo lấy nhựa, tùy theo điều kiện chăm sóc. Thời kỳ kinh doanh là khoảng thời gian còn lại của cây, bước vào khai thác và thanh lý cây lấy gỗ khi sản lượng cao su giảm.