mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát triển như Uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ…. 27 Bảo quản vật có giá Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành).
Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản.
Các nghiệp vụ trung gian khác Ngoài các hoạt động dịch vụ nêu trên, ngân hàng còn cung cấp cho các chủ thể kinh tế các dịch vụ: ủy thác, bảo quản hộ các chứng từ có giá cho khách hàng thuê két sắt, dịch vụ đại lý…. Tóm lại, các hoạt động của ngân hàng có liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại với nhau. Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn hiệu quả.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng Các dịch vụ ngân hàng nói chung có những đặc điểm như sau: Tính vô hình: là đặc điểm khác biệt giữa sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm hữu hình của các ngành sản xuất vật chất khác. Trong đó yếu tố vô hình là chất lượng phục vụ, sự thuận tiện trong giao dịch, uy tín. hàm chứa trong sản phẩm nhưng khách hàng khó nhận ra và khó phân biệt giữa các nhà cung cấp (các ngân hàng) với đẳng cấp tương đương. Chính đặc điểm này làm cho tính cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng rất cao.
Để thu hút và giữ khách hàng, các NHTM cần tạo niềm tin, uy tín với khách hàng, đưa ra các tiện ích tăng thêm trong từng dịch vụ và không ngừng củng cố quan hệ đối với khách hàng. 28 Tính không thể chia cắt: hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng và hoạt động sử dụng dịch vụ của khách hàng xảy ra cùng lúc và thường được tiến hành dựa trên những qui trình nhất định, theo những thứ tự nhất định. Khi khách hàng có nhu cầu, sản phẩm sẽ được cung ứng trực tiếp cho họ. Tính khó xác định và không ổn định: một sản phẩm dịch vụ ngân hàng mà việc thực hiện nó dù đơn giản hay phức tạp, qui mô sản phẩm (về doanh số, số lượng.) nhỏ hay lớn đều không đồng nhất về chất lượng, thời gian hoàn thành hoặc phương thức thực hiện khi được thực hiện bởi những nhân viên ngân hàng khác nhau.
Hoặc cùng một khách hàng nhưng trong những lần giao dịch khác nhau sẽ có những cảm nhận khác nhau về chất lượng, vì có thể sự cảm nhận khác nhau về sự thuận lợi trong các lần giao dịch, cảm giác an toàn, tin tưởng khi giao dịch, trình độ nghiệp vụ và thái độ thực hiện giao dịch của các nhân viên ngân hàng khác nhau… Các yếu tố này cấu thành và tạo nên chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nhưng lại bất ổn, chịu sự tác động, chi phối bởi hoàn cảnh khách quan và chưa lượng hoá chính xác được, ví dụ như cùng một nhân viên, thực hiện cùng một nghiệp vụ nhưng chất lượng phục vụ khác nhau giữa mỗi lần giao dịch do yếu tố thay đổi của sức khoẻ, tâm lý, chất lượng công nghệ khi thực hiện giao dịch. HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại Vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Đó là khoản hình thành nên tài sản của ngân hàng, giúp cho ngân hàng hoạt động một cách hiệu quả.
Vốn của ngân hàng là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Có thể phân chia vốn của NHTM thành nhiều loại khác nhau dựa trên những tiêu thức nhất định: theo thời gian (vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn), theo nguyên tệ (vốn nội tệ và vốn ngoại tệ), theo đặc điểm của vốn bao gồm nợ và tiền vay… Nếu theo bảng tổng kết tài sản nguồn vốn của NHTM được chia thành: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và các nguồn vốn khác 1. Phương thức huy động vốn 29 1. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu do các chủ sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận để lại.
Tuy chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng có tính ổn định cao, thường không phải hoàn trả. Do tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, bảo vệ và điều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng. Vốn chủ sở hữu thường chiếm dưới 10% tổng nguồn vốn của ngân hàng. Để bảo đảm hoạt động an toàn hiệu quả, mức vốn tự có của ngân hàng không nhỏ hơn 8% trên tổng tài sản có rủi ro quy đổi, điều này nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sở hữu đã được xem như là tài sản bảo vệ cho những người gửi tiền.
Chức năng bảo vệ không chỉ được xem như sự bảo đảm thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung cấp một khoản tài sản có dự trữ để ngân hàng khỏi bị đe dọa bởi sự thua lỗ, để có thể tiếp tục hoạt động. Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động và để bảo vệ người gửi tiền. Chức năng điều chỉnh cũng đã được xác định cho vốn chủ sở hữu của NHTM. Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ quan quản lý xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như hiện nay các ngân hàng chỉ có thể cho một khách hàng lớn nhất vay không quá 15% vốn tự có của ngân hàng.
Ngân hàng cũng như bất kỳ loại hình doanh nghiệp khác vốn chủ sở hữu bao gồm ba bộ phận chủ yếu: Vốn góp ban đầu, Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia và Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động 1. Vốn huy động từ nền kinh tế Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán còn gọi là tiền gửi có thể phát hành séc (tiền gửi giao dịch, tiền gửi theo yêu cầu). Mục đích gửi khoản tiền vào ngân hàng không phải để hưởng lãi mà là nhằm sử dụng các tiện ích do ngân hàng cung cấp như thanh toán hộ, 30 chi trả hộ, thu hộ. NHTM buộc các khách hàng nếu muốn được ngân hàng cung cấp các dịch vụ thì cần phải ký quỹ một lượng tiền tối thiểu, đồng thời với những khoản tiền gửi vào tài khoản thanh toán phải có thời gian nhất định mới được rút ra để thanh toán điều đó giúp ngân hàng có thể sử dụng lượng vốn này.
Nguồn vốn này có đặc điểm là tính ổn định thấp, thời gian sử dụng ngắn phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ hoặc địa bàn hoạt động của ngân hàng và ngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng bất cứ lúc nào nhưng ngược lại chi phí huy động của nguồn vốn này rất thấp. Thời kỳ đầu ngân hàng còn thu phí trên số dư tiền gửi này nhưng về sau để khuyến khích khách hàng gửi tiền, ngân hàng không thu phí, hiện nay để cạnh tranh với nhau các ngân hàng còn trả tiền lãi cho các số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng. Khi sử dụng nguồn vốn tiền gửi thanh toán ngân hàng phải thận trọng nếu không rủi ro chi trả sẽ xảy ra, điều này có thể làm giảm uy tín ngân hàng, hoặc phải tốn chi phí để đi vay. Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời hạn gửi tiền.
Trong khoảng thời gian đó ngân hàng có quyền chủ động sử dụng số tiền đó khi khách hàng muốn rút tiền trước thời hạn cần phải báo trước và phải được sự chấp thuận của ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh do các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội tạo ra từ các quỹ như quỹ khấu hao, quỹ đầu tư, từ các nguồn thu nhập của doanh nghiệp… khi họ biết trước được thời điểm sử dụng tiền, họ gửi những khoản tiền này vào ngân hàng nhằm mục đích thu lợi và an toàn. Chi phí huy động của loại tiền gửi này thường cao nhưng bù lại tính ổn định của nguồn vốn này lại cao Ngân hàng có thể yên tâm sử dụng mà không sợ bị rủi ro về khả năng chi trả. Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền do dân cư gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lợi đây thường là khoản tiền gửi có tỷ trọng cao nhất trong tổng số tiền gửi của ngân hàng và có tính ổn định cao nhất.
Đây là nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng của dân cư, mục đích của người gửi tiền là nhằm hưởng lãi suất 31 do đó yếu tố được người gửi quan tâm nhất là lãi suất. Lãi suất chi trả cho người gửi tiết kiệm bao giờ cũng là cao nhất. Chính vì vậy huy động nguồn vốn này sẽ có chi phí huy động lớn nhất.