Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1.1 Khái niệm về đầu tư Từ điển kinh tế chính trị học do giáo sư M. Vôn-cốp biên tập, viết rằng Đầu tư tư bản là “đầu tư dài hạn tư bản ở trong nước hoặc ra nước ngoài vào các xí nghiệp công nghiệp, vận tải, thương nghiệp và các ngành kinh tế khác nhằm mục đích thu lợi nhuận” [29, 96]. Nhà kinh tế học P.Samuelson cho rằng “đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh.
Nhà kinh tế học John.Keynes quan niệm đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận, khi một người mua hay đầu tư tài sản, người đó mua quyền để được hưởng các khoản lợi ích trong tương lai mà người đó hy vọng có được qua việc bán sản phẩm mà tài sản đó tạo ra [9]. Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 định nghĩa: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [18,1]. Theo ý kiến của tác giả, khái niệm đầu tư là bỏ vốn hay các yếu tố sản xuất để tạo ra tài sản nhằm mục đích thu lợi nhuận. Vốn ở đây có thể ở dạng hữu hình như tiền, máy móc, công nghệ, kỹ thuật,tài nguyên thiên nhiên,., hoặc ở dạng vô hình như sức lao động, công nghệ, bí quyết thành công, thương hiệu, sự tín nhiệm, bằng phát minh, sáng chế.
10 Khái niệm đầu tư nếu xét theo lĩnh vực thì được phân loại thành đầu tư tài chính, đầu tư sản xuất; theo thời gian thì có đầu tư dài hạn, đầu tư ngắn hạn; phân loại theo vốn sở hữu thì có đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài; phân theo lãnh thổ thì có đầu tư vào trong nước, đầu tư ra nước ngoài,.2 Khái niệm về hoạt động đầu tư, dự án đầu tư Luật Đầu tư của Việt Nam (2005) đưa ra định nghĩa về hoạt động đầu tư làm cơ sở để phân biệt giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó “hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lí dự án đầu tư” và dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [18,2]. Theo Wikipedia dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định [41]. Như vậy, theo tác giả, dự án đầu tư cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin cần thiết để tiến hành đầu tư, dự án đầu tư thể hiện cách thức tiến hành, hiệu quả mong muốn nếu nhà đầu tư đáp ứng được các yếu tố cần thiết. Nó bao gồm các nguồn lực cần có và khả năng sản xuất, tiêu thụ và mức sinh lời của dự án.
Để một dự án đi vào thực tiễn, nó phải trải qua các khâu chuẩn bị, quản lý và thực hiện dự án.3 Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đầu tư khi vượt ra khỏi biên giới nội địa được gọi là đầu tư quốc tế. Đầu tư quốc tế thông thường được phân thành ba hình thức: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và đầu tư tài chính[21, 506] trong đó hình thức đầu tư trực tiếp có vai trò quan trọng hơn cả. Hiện nay, có nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nhiều tác giả và các tổ chức quốc tế, của mỗi quốc gia cũng có khái niệm khác biệt. 11 Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là “việc xuất khẩu tư bản của nước mình đem đầu tư ở nước ngoài để thu lợi bằng cách xây dựng xí nghiệp mới, mở rộng xí nghiệp cũ ở ngoài hay mua chứng khoán của các công ty ở nước ngoài”.
Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) thì quan niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"[42].
Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF) cho rằng một doanh nghiệp được xem là đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khi doanh nghiệp đó hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài với số cổ phần từ 10% trở lên, hoặc có số cổ phần chi phối quyền biểu quyết hoạt động một doanh nghiệp ở nước ngoài hoặc sở hữu tương đương một doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật nước sở tại [32]. Theo nghị định số 78/2006/NĐ-CP của chính phủ, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài. Theo Dương Hữu Hạnh “đầu tư trực tiếp ngoại quốc là các tài sản vật chất hay nắm lấy quyền sở hữu công ty trong một nước khác để kiểm soát được công ty với tỷ lệ kiểm soát cao hay thấp” [6,617]. Theo tác giả đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hoạt động đầu tư nhằm mục tiêu thu lợi nhuận ở nước ngoài bằng cách xây dựng mới hoặc mua lại, sáp nhập doanh nghiệp.
Nhà đầu tư trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm pháp lý đối với hoạt động của doanh nghiệp này. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn được thực hiện thông qua việc mua cổ phần từ mức có thể trực tiếp tham gia quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 12 Thông thường các doanh nghiệp ban đầu tổ chức sản xuất kinh doanh ở thị trường trong nước, khi thị phần phát triển đến một mức độ đủ lớn ở ngoài nước thì doanh nghiệp tiến hành đầu tư sản xuất ở nước ngoài. Khi lực lượng sản xuất trong nước phát triển đến một mức độ nhất định thì xuất hiện hiện tượng các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, đối với mỗi quốc gia, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một xu thế tất yếu nhằm bổ sung những khiếm khuyết lợi ích của nhau để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình chuẩn bị, quản lý và thực hiện dự án có các đặc điểm: • Trong quá trình chuẩn bị dự án đầu tư, các lĩnh vực mà doanh nghiệp quan tâm đó là: phong tục tập quán, văn hóa, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ, các văn bản luật thu hút đầu tư của nước sở tại; khả năng thành công của công cuộc đầu tư, nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực, các văn bản luật đầu tư và các văn bản luật liên quan, trình độ công nghệ trong nước. để dự án đầu tư có tính khả thi cao nhất. Dưới góc độ quản lý nhà nước, nhà nước cần định hướng đầu tư cho doanh nghiệp, cung cấp các thông tin về môi trường đầu tư của nước sở tại.
• Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, những vần đề nghiên cứu đó là tình hình kinh tế vĩ mô, an ninh chính trị của nước sở tại lẫn trong nước, các chính sách hỗ trợ vốn được thực thi triệt để, hạn chế chi phí phát sinh không cần thiết, nguồn nhân lực được tạo điều kiện di chuyển. • Trong quá trình quản lý dự án đầu tư các vấn đề cần lưu tâm là: sự thay đổi các văn bản luật, tiến trình phát triển kinh tế của cả nước sở tại lẫn trong nước. các nhân tố này ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi thực tế của dự án, việc ký kết các hiệp định đánh thuế giữa hai nước, việc quy định chuyển lợi nhuận về nước.2 Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã xuất hiện từ xa xưa và phát triển mạnh mẽ khi khoa học phát minh ra các phương tiện cho phép con người di chuyển và quản lý các hoạt động đầu tư vượt khỏi biên giới. Hoạt động này cũng được các nhà kinh tế nghiên cứu và thể hiện trong các tác phẩm của mình.Lênin và hiện tượng “xuất khẩu tư bản” Trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” V.Lênin nhận định hiện tượng xuất khẩu tư bản trở thành một đặc trưng phổ biến của chủ nghĩa tư bản độc quyền, là một hình thức quan hệ kinh tế đối ngoại ưu thế của các nhóm độc quyền tài chính và nhà nước tư sản.Lênin cho rằng xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu, vì trong những nước tư bản phát triển đã tích lũy được một khối tư bản lớn và nảy sinh tình trạng “thừa tư bản” tương đối trong nước.
Tiến bộ kỹ thuật ở các nước này đã dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản và hạ thấp tỷ suất lợi nhuận; trong khi đó, ở những nước kém phát triển về kinh tế dồi dào nguyên liệu và nhân công giá rẻ nhưng lại thiếu vốn và kỹ thuật. Do vậy việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài trở thành một nhu cầu tất yếu để nâng cao tỷ suất lợi nhuận và khối lượng lợi nhuận.