CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Một trong những mục đích của GD ĐH là tạo ra nguồn nhân lực đã được chuẩn bị những KN cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất của xã hội. Các ngành nghề đào tạo trong các trường ĐH đều xuất phát từ đòi hỏi của bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn nhất định.
Đứng trước sự biến động của nền kinh tế xã hội có xu hướng ngày càng mạnh, các nhà tuyển dụng ngày càng yêu cầu SV tốt nghiệp phải có các KN thực tế để có thể thích ứng ngay với môi trường việc làm. Để giải quyết vấn đề này, trong nhiều thập kỷ vừa qua, nhiều nhà GD trong nước và nước ngoài đã có những nghiên cứu đáng kể về dạy học gắn với TTNN, lấy SV làm trung tâm, tăng cường gắn kết giữa lý thuyết trên giảng đường ĐH với TT công việc, để chuẩn bị sẵn sàng cho SV sau khi tốt nghiệp. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Một số nghiên cứu dạy học gắn với TTNN trong GD ĐH trên thế giới Xu hướng nghiên cứu dạy học gắn với TTNN đang được nhiều nhà nghiên cứu GD ĐH trên thế giới quan tâm, vận dụng đa dạng các lí thuyết học tập nhằm gắn kết giữa giảng đường ĐH với thế giới NN của người học sau tốt nghiệp.
Trong bài báo “Work-based learning in US higher education policy” (Học tập dựa trên công việc trong chính sách GD ĐH Hoa Kỳ) [57] tác giả Joseph A. Raelin cũng đã chỉ ra rằng mối liên hệ giữa kinh nghiệm làm việc và chương trình giảng dạy trong trường ĐH chỉ được hình thành một cách lỏng lẻo, một số chính sách trong GD ĐH ở Mỹ đã được bắt đầu để tăng cường đóng góp về mặt sư phạm của phương pháp học tập dựa trên công việc nhưng các rào cản về thể chế vẫn còn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng bằng cách trang bị cho SV các KN liên quan đến công việc, học tập dựa trên công việc thúc đẩy mức độ xác định vai trò công việc và hiệu quả cao, từ đó ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển đổi thành công của SV vào môi trường làm việc. Tại Vương quốc Anh, tác giả Ruth Helyer ở Khoa Lý luận Doanh nghiệp ĐH Teesside trong nghiên cứu “Alighing higher education with the world of work” (Gắn kết GD ĐH với thế giới việc làm) [38] đã chỉ ra rằng SV được sắp xếp học tập dựa trên công việc sẽ có KN thực tế hơn với những SV chọn các lộ trình học truyền thống.
Và khuyến nghị rằng, vì tất cả SV cần nâng cao KN làm việc và cuộc sống để phù hợp hơn việc làm và cuộc sống sau khi tốt nghiệp nên cần tăng cường gắn kết GD với TT việc làm. Tại Úc, nhóm tác giả Lesley Cooper, Janice Orrell và Margaret Bowden ở ĐH Flinders đã xuất bản cuốn sách “Work integrated learning: A guide to effective practice” (Học tập tích hợp công việc: Một hướng dẫn thực hành hiệu quả) [31] đã 7 trình bày hướng dẫn áp dụng TT vào chương trình giảng dạy ĐH qua hướng tích hợp học tập và công việc trong việc đào tạo SV những KN sẵn sàng làm việc trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng tăng như KNNN cụ thể, KN công nghệ thông tin, KN giao tiếp xã hội, KN giải quyết vấn đề, …, cùng với thách thức về văn hoá và ngôn ngữ mang lại. Qua nghiên cứu hướng tiếp cận học tập dựa trên công việc và học tập tích hợp công việc cho thấy nỗ lực của các nhà nghiên cứu GD ĐH trong việc kết nối chương trình GD ĐH với thế giới việc làm mà SV sẽ phải đối mặt sau khi tốt nghiệp, tập trung chủ yếu vào các môn học CN. Tuy nhiên các nghiên cứu mở ra cơ hội cho thấy việc dạy học gắn với TT công việc của các ngành nghề có thể hình thành và phát triển KNNN cho SV.
Một xu hướng tiếp cận GD gắn với TTNN cũng được các nhà GD trên thế giới quan tâm đó là xu hướng dạy học gắn với TT bên ngoài lớp học, nó thể hiện ở quan điểm học tập đích thực (Authentic Learning) đang được phát triển từ cuối thế kỷ 20 cho đến nay. Đã có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về vấn đề HTĐT hay tạo môi trường HTĐT cho các ngành đạo tạo cụ thể của các trường ĐH, trong số đó cần kể đến những công trình của các tác giả như: Giáo sư Janice Anne Herrington ở ĐH Murdoch, Úc trong Luận án tiến sĩ năm 1997 với tên “Authentic learning in interactive multimedia environments” (HTĐT trong môi trường đa phương tiện tương tác) [39] đã sử dụng lý thuyết học tập tình huống để thúc đẩy HTĐT mà theo bà là có thể bắt đầu giải quyết sự rạn nứt ngày càng tăng giữa việc học ở trường và việc học trong đời thực ở thời điểm đó. Cụ thể, nghiên cứu điều tra cách SV sư phạm TH sử dụng đa phương tiện tương tác dựa trên mô hình học tập theo tình huống, cách họ phản ứng với các yếu tố quan trọng của môi trường học tập theo tình huống, kiểu tư duy bậc cao nào họ đã sử dụng khi làm việc với chương trình, và liệu việc học có chuyển sang thực hành giảng dạy chuyên nghiệp trong TT hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy HTĐT có thể triển khai hiệu quả và gắn kết kiến thức nhà trường với TT.
Điều này mở ra một hướng vận dụng để dạy học gắn với TT cho ngành KTM, KTĐC. Lombardi trong bài báo “Authentic learning for the 21st century: An overview” (HTĐT cho thế kỉ 21: Tổng quan) [48] đã trình bày tổng quan về HTĐT, bắt đầu bằng một loạt các câu hỏi cơ bản: HTĐT là gì? Công nghệ thông tin hỗ trợ HTĐT như thế nào? Điều gì làm cho việc học đích thực hiệu quả? Tại sao việc HTĐT lại quan trọng? Nghiên cứu đã gợi ra cho tác giả luận án thấy tính khả thi của việc vận dụng phương pháp HTĐT vào dạy học gắn với TTNN cho SV ngành KTM, KTĐC. Tiếp theo trong bài báo “Approaches that work: How authentic learning is transforming higher education” (Cách tiếp cận công việc: HTĐT đang thay đổi GD 8 ĐH như thế nào) [47] bà đã trình bày 05 nghiên cứu điển hình về cách các trường ĐH trên thế giới đã sử dụng cách tiếp cận theo hướng HTĐT kết hợp công nghệ vào giảng dạy các lĩnh vực: lịch sử, vi điện tử, công nghệ nano, sinh học đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học. Nghiên cứu đã cho thấy những tác động mạnh mẽ của HTĐT khi kết hợp với công nghệ đã làm thay đổi cách thức học tập của SV và sự cải tiến trong vận hành của một số trường ĐH học trên thế giới, đó chính là sự toàn cầu hoá, chia sẻ tài nguyên, khoảng cách giữa các trường ĐH dần thu hẹp.
Anthony Herrington và Jan Herrington khi ở ĐH Wollongong-Úc đã xuất bản cuốn sách “Authentic learning environments in higher education” (Những môi trường HTĐT trong GD ĐH) [42] năm 2006 ở Mỹ và Anh. Trong đó trình bày các vấn đề về HTĐT, môi trường HTĐT và đưa ra những ví dụ về môi trường HTĐT ở một số ngành cụ thể ở ĐH như: Kiến trúc, Sinh học, Kinh doanh, Kinh tế, Sức khỏe, Công nghệ thông tin, Văn học, GD TH, Sư phạm,…. Đây là tư liệu tốt cho các GV và người nghiên cứu có thể tham khảo về vấn đề thiết kế môi trường HTĐT cho SV. Tác giả Vũ T Thuỷ và Gloria Dall'Alba ở trường Giáo dục, ĐH Queensland, Úc đã tranh luận về việc tái khái niệm hóa HTĐT phù hợp với sự tích hợp giữa hiểu biết, hành động và trở thành chuyên gia ở Chương 5 có chủ đề “Becoming authentic professionals: Learning for authenticity” (Trở thành các chuyên gia đích thực: Học tập vì tính đích thực) [64] trong cuốn sách thứ 16 của chuỗi sách Học tập suốt đời do Lesley Scanlon biên tập được Springer xuất bản năm 2011.
Trong đó đã đưa ra một khái niệm mở rộng và được hình thành lại về tính đích thực của việc học, làm nền tảng cho các quá trình GD thu hút SV trở thành con người toàn diện hơn. Nghiên cứu chỉ ra một số điều kiện để áp dụng thành công cách tiếp cận HTĐT đối với GD chuyên nghiệp, giúp tác giả luận án có cái nhìn toàn diện hơn đối với khả năng vận dụng phương pháp HTĐT vào dạy học gắn với TTNN. Năm 2016 tác giả Lauretta Garrett cùng cộng sự ở ĐH Tuskegee, Mỹ đã đưa ra “A Framework for Authenticity in the Mathematics and Statistics Classroom” (Một khung đích thực trong lớp thống kê và TH) [33] với hai ví dụ minh hoạ về việc thiết kế bài tập cho lớp học giải tích và lớp học thống kê kéo dài cả một kỳ học gắn với các tình huống TT cuộc sống, giúp làm tăng hứng thú học toán đối với SV ĐH để khắc phục tình trạng mà như các tác giả dẫn ra là sự thiếu hiểu biết về TH trong cuộc sống hàng ngày của công dân Mỹ. Năm 2017, Maria Gugu Ndawo bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với tên “A model to facilitate authentic learning in learner nurses at a higher education institution” ở ĐH Johannesburg, Nam Phi đã phát triển và đánh giá một mô hình đồng thời mô tả các hướng dẫn để vận hành nó để tạo điều kiện HTĐT cho các SV y tá ở cơ sở GD ĐH nhằm phát triển các KN siêu nhận thức cho SV tốt nghiệp để có năng 9 lực, sự phán đoán, tự chủ, độc lập mong muốn cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn cầu trong thế kỷ 21 [69, trang 81].
Qua các nghiên cứu trên cho thầy rằng, HTĐT đang được các nhà GD ĐH khai thác, triển khai trong nhiều lĩnh vực đa dạng, với chủ trương cho SV thực hiện các nhiệm vụ bên ngoài trường học, qua đó tự khám phá kiến thức, đồng thời hình thành và phát triển các KN cần thiết. Đồng thời cho thấy đây là một cách tiếp cận phù hợp với chủ đề của luận án. Ngoài ra Học tập dựa trên vấn đề (PBL) cũng là một phương pháp được các nhà GD ĐH quan tâm, triển khai. Như tên gọi của nó, PBL bắt đầu bằng một vấn đề để SV cần giải quyết hoặc tìm hiểu thêm, được đặt trong một kịch bản hoặc định dạng nghiên cứu tình huống.
Các vấn đề được thiết kế “không có cấu trúc” và mô phỏng sự phức tạp của các trường hợp thực tế trong cuộc sống.