CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới cũng có nhiều nhà nghiên cứu về quan điểm trong tích hợp trong đó có Ken Wilber và Esbjorn Hargens đề xuất quan điểm dạy học tích hợp.
Lý thuyết tích hợp tìm kiếm sự tổng hợp tốt nhất hiện thực “xưa- pre-modern, nay- modern, và mai sau- postmodern”. Nó được hình dung như là một lý thuyết về mọi sự vật và cung cấp một đường hướng kết hợp nhiều mô thức rời rạc hiện tại thành một mạng hoạt động phức hợp, tương tác nội tại của nhiều cách tiếp cận. Lý thuyết tích hợp đã được nhiều nhà thực hành lý thuyết áp dụng trong nhiều lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau [24]. Hiện nay, lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay.
Xu hướng tích hợp đang được thực hiện trên nhiều bình diện, nhiều cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục. Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học (Rogier, 1996)[17]. Hội thảo quốc tế đón chào thế kỷ 21 có tên “Kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập” với sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc 18 quốc gia được tổ chức từ ngày 6 - 8/12/2000 tại Manila (Philippines). Một trong những nội dung chính được bàn luận sôi nổi tại hội thảo này là những con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thức hướng vào người học trong thời đại thông tin.
Muốn đáp ứng được nhu cầu kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập, đòi hỏi tư duy tích hợp được thiết kế ngay trong nội dung, phương tiện nghiên cứu và phương pháp dạy học. Như thế, khi đứng trước nhu cầu giải quyết mâu thuẫn kiến thức của tình huống học tập, người học không chỉ giải quyết theo hướng trực tuyến hay nội suy mà có thể còn giải quyết bằng cách ứng dụng một cách linh hoạt khả năng liên hội kiến thức. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, dạy học theo quan điểm tích hợp đã được nghiên cứu từ rất lâu. Tuy nhiên, việc sử dụng dạy học tích hợp vẫn hạn chế và chưa có nghiên cứu ứng dụng sâu sắc.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về dạy học tích hợp. Nguyễn Thanh Hùng (2006) nghiên cứu vấn đề Tích hợp trong dạy học Ngữ văn. Tác giả coi việc tích hợp trong dạy học Ngữ văn là quan điểm, là hình thức, phương pháp, phương tiện đã và đang được các nhà trường phổ thông áp dụng, cụ thể là tích hợp Tập làm văn, Văn học, Ngữ pháp vào trong môn Ngữ Văn. Ngoài ra, tác giả còn đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo chương trình tích hợp đối với môn Ngữ Văn [5].
Lê Trọng Sơn (1999) với đề tài Vận dụng tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu người ở lớp 9 THCS, ông đã chỉ ra mối quan hệ giữa những tri thức giải phẫu con người và tri thức dân số từ đó vận dụng quan điểm tích hợp để lồng ghép các kiến thức dân số cần thiết vào các bài học có liên quan. Đó chính là bản chất của giáo dục tích hợp [222, tr19]. Nguyễn Phúc Chính và Trần Thị Mai Lan (2009) lại đề cập đến Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật học (Sinh học 10). Các tác giả đã nghiên cứu nội dung của phần Vi Sinh Vật học lớp 10, từ đó đưa ra một số nguyên tắc, biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học vi sinh vật và kết luận việc tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong các môn học ở trường phổ thông sẽ đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học môn học, góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp sau này [2, tr44].
Hội thảo “Dạy học tích hợp- Dạy học phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông” được Bộ GD-ĐT tổ chức vào tháng 11/2012 đã đề cập tới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015, “Dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới từ đó phát triển những năng lực cần thiết”. Phương án tích hợp đã được đề xuất cho việc phát triển chương trình giáo dục phổ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông Việt Nam sau 2015 ở cả ba cấp: Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông [13]. Như vậy, việc tích hợp các kiến thức vào dạy học đã và đang thu hút sự quan tâm của không ít những nhà sư phạm ở Việt Nam. Những công trình nghiên cứu đó đã góp phần khẳng định dạy học theo quan điểm tích hợp là tất yếu và cần thiết trong nhà trường hiện nay.
Một số vấn đề về dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp Từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [15, tr981]. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “Integration” một từ gốc Latin (Integer) có nghĩa là “Whole” hay “toàn bộ, toàn thể”.
Đó là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [3]. Theo Phạm Văn Lập “tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được ở môn này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng môn học. Thí dụ, toán học được sử dụng như công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinh học.
Tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình sinh học…” [10]. Dương Tiến Sỹ và Nguyễn Phúc Chỉnh đều cho rằng “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [18]. Như vậy, dưới góc độ Giáo dục học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm dạy học tích hợp Theo UNESCO, “Dạy học tích hợp các khoa học được định nghĩa là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của các tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hay quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [22]. Theo Xavier Roegiers, “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Như vậy, sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [17]. Tuy có những định nghĩa khác nhau nhưng các cách định nghĩa về dạy học tích hợp này lại thống nhất biện chứng với nhau ở tư tưởng chính là việc thực hiện mục tiêu kép trong quá trình dạy học (một là mục tiêu dạy học thông thường của một bài học, hai là mục tiêu được tích hợp trong nội dung bài học đó).
Như vậy, dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà trong cùng một thời lượng học tập, học sinh thu nhận được đồng thời nhiều đơn vị kiến thức bằng cách kết hợp, sự phối hợp những hoạt động, chương trình, phương pháp nghiên cứu học tập đạt được mục tiêu dạy học. Tóm lại, cho đến nay, dạy học tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Mục đích của dạy học tích hợp Dạy học tích hợp có những mục đích cụ thể sau: - Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn việc học tập của học sinh với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp , hoà nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống. - Dạy học tích hợp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn.
Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo.Trong thực tế nhà trường đôi khi có những điều chúng ta dạy cho HS nhưng không thật sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản của người học không 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được dành đủ thời gian. Chẳng hạn ở Tiểu học, HS được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một bài văn. - Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể. Thay vì nhồi nhét cho HS nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho HS vận dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập.
- Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học. Trong quá trình học tập, HS có thể lần lượt học những môn khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.