CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Ở chương này chúng tôi trình bày những kiến thức cơ bản về lý thuyết kiến tạo và một số kiến thức đại số liên quan để làm cơ sở lý thuyết vận dụng cho chương sau. Lý thuyết kiến tạo 1. Khái niệm về lý thuyết kiến tạo a. Nguồn gốc của lý thuyết kiến tạo Lý thuyết kiến tạo (Constructivism) ra đời từ cuối thế kỷ XVIII nhưng được phát triển từ khoảng những năm 60 của thế kỷ XX và được đề xuất bởi Jean Piaget (1890-1980) - Nhà tâm lý học và triết học người Thụy Sỹ, đặc biệt được chú ý từ cuối thế kỷ XX.
Trong hai thập niên giữa thế kỷ 20 và 21, đã có nhiều tranh luận về việc phát triển lý thuyết trong giáo dục toán. Trong đó, chúng ta cần phải xem xét các yếu tố phức tạp có tính khái niệm tác động vào lý thuyết, đó là: con người, nội dung toán học, bối cảnh học tập và thời gian. Sự phức tạp này ngày cành gia tăng bởi những vấn đề mang tính bản thể luận và nhận thức luận, Những vấn đề đó tiếp tục thách thức cả giáo dục toán cũng như giáo dục nói chung, và chúng chưa được đề cập một cách trực tiếp. Ngày nay, lý thuyết trong giáo dục toán ngày càng trở nên quan trọng, nó định hướng cho những thực hành trong lớp học.
Giả sử để học được một ngôn ngữ một cách thành thạo, nếu bạn học chúng theo cách tích lũy thì khó có thể dung nạp hết kiến thức vào đầu. Tuy nhiên, nếu học theo hệ thống liên tiếp có sự gắn kết cái này với cái kia thì ngôn ngữ sẽ không còn là trở ngại của bạn nữa. Không chỉ riêng gì học ngôn ngữ, mà mọi môn học đều có thể áp dụng phương thức hiệu quả này. Đây là điển hình cụ thể cho lý thuyết kiến tạo, một cá nhân nắm bắt và hiểu được các tình huống mới qua cái mà mình đã biết và thay đổi kiến thức có trước của mình để thích nghi với các tình huống ấy.
Mỗi một thích nghi cho phép mở rộng và làm giàu thêm vốn kiến thức của một cá nhân. Quá trình cá nhân tổ chức các hoạt động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng sơ đồ hay cấu trúc nhận thức. 4 Theo lý thuyết kiến tạo, học chính là áp dụng các kiến thức có trước. Khi học hay làm bất kỳ cái gì thì tính chủ động là rất quan trọng.
Đó chính là kích hoạt và áp dụng kiến thức có trước. Học những điều mới phải luôn luôn được được thực hiện từ cái mà người học đã biết. Khí đó, kiến thức nối tiếp kiến thức sẽ giúp người học tự hình thành kiến thức sâu chuỗi, liên quan, và kiến thức hình thành sâu đậm hơn. Khái niệm về lý thuyết kiến tạo Theo Mebrien và Brandt (1997), “kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác”.
Theo Brooks (1993), “ quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đãcó trước đó. HS thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng…”.Briner (1999) cho rằng, “người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thức mới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc”. Nhìn chung, các khái niệm nói trên có điểm chung đó là nhấn mạnh đến vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thu nhận những tri thức cho bản thân. Lý thuyết kiến tạo trong các hoạt động a.
Lý thuyết kiến tạo trong hoạt động nhận thức Trong quá trình lịch sử phát triển nhận loại, đã từng tồn tại hai quan điểm đối với lý thuyết kiến tạo: quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật. Quan điểm duy tâm cho rằng thế giới tồn tại và vận động theo ý muốn của một sức mạnh siêu nhiên- của các vị thần thánh, của chúa trời. Khi một sự kiện tốt hay xấu nào đó xảy ra thường thì người ta cho rằng những sự kiện ấy là do chúa trời ban, không thể thay đổi theo ý của ta, và con người thuận theo nó. Quan điểm duy vật thì cho rằng những tri thức lý thuyết, khái niệm, định luật hay cả công thức toán học đều là bên trong thế giới tự nhiên đã chứa 5 sẵn.
Chúng chưa tìm ra do đang bị che lấp trong tự nhiên, con người chỉ cần khai thác chúng mà không cần phải xây dựng tri thức nữa. Từ hai quan điểm trên đã để lại hậu quả khá nghiêm trọng đối với nhận thức của con người trong học tập hay trong cả cuộc sống. Con người chỉ cần chấp nhận những kiến thức mà thế hệ đi trước truyền thu cho một cách áp đặt, không cần phải tìm hiểu vì sao, làm như thế nào và bằng phương tiện nào. Trải qua vài thế kỷ thì con người dần nhận thấy được những điều sai lệch trên, và từ đó thay đổi những suy nghĩ ấy.
Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý thuyết kiến tạo cũng được hiểu rộng hơn. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng chính của lý thuyết kiến tạo đã được nhận thức qua khẳng định trong luận đề: Thế giới tự nhiên được tạo nên bởi vật chất, vật chất luôn vận động và tồn tại khách quan; con người có thể phản ánh được sự tồn tại và vận động của vật chất trong tư duy và hành động của mình. Tri thức càng phong phú, đa dạng thì càng phản ánh thực tại một cách sâu sắc và đầy đủ hơn. Tuy tri thức trên thế giới phong phú là vậy, đa dạng là vậy nhưng theo thời gian số lượng tri thức đó chưa bao giờ là đủ.
Vì vậy luôn có sự mở rộng hệ thống tri thức và từ đó thúc đẩy con người hoạt động tìm tòi liên tục, không ngừng. Từ đó con người theo từng ngày dần hoàn thiện bản thân và nhận thức sâu sắc hơn. Lý thuyết kiến tạo về hoạt động học tập Theo thời gian, quá trình trưởng thành về tư duy, tình cảm của một người bình thường luôn tỷ lệ thuận với quá trình nhận thức khi được đào tạo với những hình thức khác nhau. Học tập trong nhà trường là hình thức học tập chính quy, được tổ chức chặt chẽ theo một chương trình được biên soạn để phù hợp với lứa tuổi của học sinh, học sinh phải có tinh thần tự giác.
Học tập ngoài nhà trường là hình thức học tập có tính tự phát. Xuyên suốt quá trình học tập đều hướng tới quá trình hoạt động tâm - sinh lý của lứa tuổi học sinh, được cảm thụ qua các cơ quan trên cơ thể như: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác và vị giác sau đó được truyền đến các hệ thần kinh trung ương như: các hệ thống dây thần kinh, bộ não, tim hay tủy sống. Để hoàn thiện hơn về hệ thống tri thức thì không thể thiếu ngôn ngữ và các kí tự được lưu truyền và phát triển. Học tập là kết quả của quá trình đồng hóa (Assimilation) và điều ứng (Accomodation) được biết đến qua công trình nghiên cứu về tâm lý học phát triển, tâm lý học trí tuệ của Piaget (1896 - 1983) và của Vygoski (1896 - 1934).
Theo Piaget 6 đồng hóa là quá trình chủ thể (con người) tiếp cận khách thể (một sự vật hiện tượng tác động lên con người) và xử lý nó nhằm đạt được mục tiêu nào đó. Từ đó, đồng hóa giúp chủ thể tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vốn sống vào kho tàng tri thức của chủ thể. Điều ứng là quá trình chủ thể thích nghi với khác thể làm biến đổi nhận thức cũ sao cho phù hợp với khác thể đó. Đồng hóa Cân bằng Tình huống mới Mất cân bằng Điều ứng Hình 1.
Chu trình từ đồng hóa đến điều ứng. Lý thuyết kiến tạo căn bản được trình bày dựa trên hai nguyên tắc sau: - Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải được tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài. - Nhận thức là quá trình điều ứng và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi người. Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể.
Khi một sự kiện nào đó xảy ra, mỗi cá nhân đều có một quan điểm xử lý khác nhau. Như vậy, khi một quan niệm sai trái hình thành thì đó lại là sự cản trở to lớn trong quá trình hình thành tri thức khoa học và đặc biệt hơn là quá trình nhận thức của học sinh trong giảng dạy. 7 Nhận thấy được con người thường không tồn tại đơn lẻ, mà sống trong gia đình, trong tập thể và trong cộng đồng xã hội qua các giao tiếp thường thấy là ngôn ngữ, hình thể, … Vygotski cho rằng, sự học tập của chủ thể không chỉ ngừng lại ở quá trình kiến tạo căn bản mà nó còn được thực hiện qua sự tương tác, tranh luận trong một tập thể. Và nó được gọi là sự kiến tạo xã hội (hay kiến tạo ngoại sinh - social constructivism).
Sự kiến tạo xã hội có ảnh hưởng nhất định đến hệ thống tri thức khoa học do con người sáng tạo và xã hội công nhận. Lý thuyết kiến tạo xã hội đã bổ sung thêm bốn nguyên tắc (Ernest,1991): - Những lý thuyết có tính cá nhân thu được từ sự sắp xếp lại các kinh nghiệm của bản thân phải phù hợp với những ràng buộc được ấn định bởi thực tiễn tự nhiên và xã hội. - Con người đạt được những lý thuyết này theo chu trình: Lý thuyết- Dự đoán- Thử nghiệm- Thất bại- Thích nghi- Lý thuyết mới - Chu trình đó sẽ đưa đến những lý thuyết được xã hội công nhận về thực tiễn tự nhiên và xã hội cùng các nguyên tắc ngôn ngữ được sử dụng. - Toán học là lý thuyết về hình thái và cấu trúc được nảy sinh ra từ trong ngôn ngữ.
Như vậy, lý thuyết kiến tạo xã hội đã thực sự mở rộng lý thuyết kiến tạo cơ bản với sáu nguyên tắc.