Phần mở đầu (giống hệ vào của mô đun) - Nội dung và PP học tập - Phần tổng hợp - Test trung gian Khi cần thiết thân mô đun còn có những mô đun bổ trợ giúp cho ngƣời học bổ sung kiến thức còn thiếu, sửa chữa sai sót và ôn tập. Ngƣời học không bắt buộc phải học mô đun bổ trợ mà chỉ cần đọc khi bản thân mình thấy cần thiết để bù đắp chỗ thiếu trong kiến thức hay đi sâu hơn do nhu cầu học tập. Hệ ra Hệ ra của mô đun gồm: + Một bản tổng kết chung + Một test kết thúc + Hệ thống chỉ dẫn để tiếp tục học tập tuỳ theo kết quả tự học mô đun của ngƣời học. Nếu ngƣời học đã đạt tất cả các mục tiêu của mô đun thì chuyển sang mô đun tiếp theo.
Nếu không qua đƣợc phần lớn các test kết thúc thì cần phải học lại mô đun. Còn nếu chỉ có những thiếu sót khi thực hiện test kết thúc thì chỉ học lại những tiểu mô đun cần thiết chƣa đạt hoặc mô đun bổ trợ mà thôi. Sơ đồ cấu trúc chung nhất của một mô đun nhƣ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 (Lƣu ý rằng phần hoạt động và đánh giá liên quan tới mục tiêu) Giới thiệu. Mục đích / Mục tiêu chung.
Băng hình / tiếng 3. Dạy học theo mô đun Nội dung chính của PP dạy học này là nhờ các mô đun học mà ngƣời học đƣợc dắt dẫn từng bƣớc để đạt tới mục tiêu dạy học. Nhờ sự phân chia nội dung dạy học ra từng phần nhỏ, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt trong mỗi tiểu mô đun và hệ thống test, ngƣời học có thể tự học và tự kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng và thái độ trong từng tiểu mô đun. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 Trong PP dạy học theo mô đun ngƣời GV sẽ chỉ giúp đỡ khi cần thiết.
Nhƣ giải đáp thắc mắc, sửa chữa sai sót cho HS. Khi kết thúc mỗi mô đun GV sẽ giúp ngƣời học đánh giá kết quả học tập của họ. Nếu đạt, ngƣời học sẽ chuyển sang học mô đun tiếp theo còn nếu không đạt ngƣời học sẽ học lại từ một phần nào đó của mô đun với nhịp độ riêng cho đến khi đạt đƣợc các test kết thúc. Ta có thể hình dung về sơ đồ PP dạy học theo mô đun nhƣ sau: Giới thiệu cách dùng mô đun Ngƣời học nghiên cứu mô đun thứ nhất Ngƣời học tự học tập theo GV giúp đỡ khi nhịp độ riêng cần thiết Ngƣời học tự đánh giá bằng các test trung gian GV đánh giá bằng các test kết thúc Trao đổi với Không Đạt Nghiên cứu mô GV đạt đun tiếp theo Sơ đồ 1.
Ứng dụng CNTT trong dạy học 1. Tổng quan về ứng dụng CNTT trong dạy học a) Tìm hiểu về tác động của CNTT đến mục đích dạy học toán CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ nâng cao chất lƣợng dạy học, hình thành khả năng lao động hợp tác cho HS phổ thông, đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời lao động hiện đại, cụ thể là: ta có thể sử dụng CNTT hỗ trợ dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 hầu hết các môn học trong chƣơng trình phổ thông. Ngày nay CNTT đƣợc đƣa vào nhà trƣờng theo hƣớng là một phƣơng tiện dạy học hiện đại. Nhờ có sự hỗ trợ của phƣơng tiện kĩ thuật mới này mà hiệu quả dạy học các môn học nói chung và môn toán nói riêng đƣợc nâng cao.
CNTT hiện nay cùng với các phần mềm mới có thể đƣợc sử dụng trong việc truyền thụ kiến thức toán cho HS. HS tiếp thu tri thức không chỉ với con đƣờng thông qua bài giảng của thầy hoặc tham khảo sách báo nhƣ trƣớc đây mà còn có thể bằng hoạt động trong môi trƣờng CNTT. Theo Colette[26], một nhà nghiên cứu về dạy học môn Toán ngƣời Pháp, thì máy tính điện tử có khả năng tạo ra môi trƣờng giải quyết vấn đề (problem solving envionments) cho HS và môi trƣờng đó có vai trò to lớn trong việc kích thích hoạt động tìm tòi khám phá và từ đó hình thành kiến thức mới. Theo học thuyết kiến tạo (cosntructivist hypothesis) thì kiến thức HS đƣợc tạo nên khi hoạt động trong môi trƣờng toán học, CNTT có khả năng rất tốt trong việc tạo ra môi trƣờng đó.
Trong môi trƣờng máy tính, HS tiếp thu đƣợc bằng chính hoạt động, thực hành của mình (learning by doing). John Mason (tác giả ngƣời Anh) năm 1992 đã phát triển lý tƣởng cho rằng các phần mềm máy vi tính về toán là một hệ thống các công cụ có khả năng đƣợc sử dụng giải toán và giúp nghiên cứu khái quát để đi đến việc tìm ra các tính chất toán học. CNTT hiện nay với khả năng đồ hoạ sinh động, cơ hoạt, minh hoạ cho phép mô tả trực quan sinh động các yếu tố toán học để giúp HS tiếp thu những tính chất trừu tƣợng của các đối tƣợng toán học, các chủ đề khó trong chƣơng trình toán. Một số chƣơng trình máy tính cho phép tạo nên những công cụ mới và việc sử dụng những công cụ này vào các đối tƣợng toán học sẽ thu đƣợc những thông tin phản hồi (feedback).
Thông tin này có thể là những tính chất, quan hệ của những đối tƣợng đó. Máy tính điện tử với các khả năng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 - Lƣu trữ và cho phép thâm nhập vào một khối lƣợng thông tin khổng lồ - Khai thác các cơ sở dữ liệu tri thức - Sƣ̉ dụng các công thức, các tính toán phức tạp - Vẽ hình không gian. Sử dụng CNTT trong quá trình dạy toán học sẽ giúp hình thành và rèn luyện phong cách làm việc khoa học, đó là tính độc lập, chủ động sáng tạo tự học, tự rèn luyện, say sƣa tìm tòi nghiên cứu, thái độ nghiêm túc và kỷ luật cao. Trong quá trình hội thoại với máy tính, máy không phê phán gay gắt trực tiếp khi HS trả lời sai, nhƣng nó không bao giờ khoan nhƣợng đối với các sai sót đó.
Chỉ khi nào HS trả lời đúng câu hỏi đƣợc đặt ra và giải quyết xong nhiệm vụ đƣợc giao thì máy mới cho phép tiếp tục nghiên cứu vấn đề mới. Để hội thoại với CNTT có kết quả cao HS buộc phải kiên trì nhẫn nại. Sử dụng CNTT trong giai đoạn kiểm tra đánh giá giúp HS rèn luyện và hình thành đức tính khách quan, trung thực, công bằng chính xác. Ngày nay khi mà CNTT đã thâm nhập vào hầu hết lĩnh vực của đời sống con ngƣời thì việc đƣa phƣơng tiện máy tính vào trợ giúp giảng dạy môn Toán đã góp phần đào tạo nên những con ngƣời có kỹ năng sử dụng thành thạo máy vi tính, nhằm thích nghi với xã hội hiện đại.
b) Vai trò hỗ trợ của CNTT đối với quá trình dạy học toán Vai trò của CNTT đối với quá trình dạy học toán là rất to lớn. Theo sự khảo cứu của nhiều nhà nghiên cứu nƣớc ngoài thì dạy học toán với sự hỗ trợ của CNTT có khả năng nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập. CNTT có thể đƣợc sử dụng trong nhiều khâu của quá trình dạy học toán. Vai trò hỗ trợ của CNTT trong quá trình đó đƣợc thể hiện qua một số chức năng quan trọng sau đây[26]: Chức năng cung cấp thông tin Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Làm việc với các phần mềm máy tính về toán HS có thể thu thập các dữ liệu cần thiết cho mục đích học tập của mình.
Máy tính quản lý và xử lý rất nhiều dạng thông tin khác nhau nhƣ văn bản, số đo, biểu đồ, đồ thị, hình vẽ, dạng quá trình chuyển động.Với khả năng này CNTT giúp HS có điều kiện tốt để nghiên cứu các đối tƣợng toán học từ đó tìm ra kiến thức mới. Chức năng hỗ trợ hoạt động khám phá và giải quyết vấn đề Hỗ trợ khám phá đƣợc xem là một trong những chức năng cần thiết trong dạy và học toán. Từ khi các phần mềm vi thế giới ra đời, các nhà nghiên cứu PP dạy học toán đã bắt đầu đề cao đến vai trò hỗ trợ hoạt động khám phá, giải quyết vấn đề của CNTT trong quá trình giảng dạy. Trong việc giúp HS tìm tòi, phát hiện các tính chất mới thì CNTT tỏ ra có nhiều ƣu thế vƣợt trội so với một số phƣơng tiện dạy học truyền thống.
Các phần mềm với các công cụ dựng hình cho phép HS thao tác để phát hiện và dự đoán đƣợc các tính chất hình học trong hình học. Ngoài ra các phần mềm đó còn đƣa ra các công cụ đo đạc và tính toán liên quan đến các số đo về độ dài, diện tích. Từ đó có thể tìm ra các công thức về mối liên hệ giữa các số đo của các yếu tố trong các bài toán hình học. Chức năng trực quan hoá, minh hoạ, kiểm nghiệm CNTT có thể đƣợc sử dụng trong quá trình dạy học toán nhằm tạo ra mô hình trực quan để minh hoạ cho các nội dung trong bài giảng.
Trực quan hoá là chức năng biểu diễn các thông tin có tính cấu trúc hoặc các vấn đề học dƣới dạng có thể nhìn thấy đƣợc trong đó có sự tham gia của các mô hình. Chức năng trực quan hoá khiến học máy tính điện tử trở thành chiếc cầu nối giữa hai hoạt động dạy và học(Abridge between teaching and learning, theo Leon Burton và Barbara Jaworski). Cụ thể vai trò trực quan hoá của CNTT giúp HS phát hiện rất nhanh (nhờ quan sát bằng mắt) các quan hệ song song, vuông góc, thẳng hàng, bằng nhau, lớn hơn cũng nhƣ hình dạng đƣờng đi của điểm chuyển động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 Sự kết hợp giữa lập luận suy diễn và dùng máy tính để minh hoạ kiểm nghiệm lại các tính chất có tác dụng thúc đẩy hỗ trợ cho nhau nhằm đạt đƣợc mục đích cuối cùng là hình thành kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phát triển tƣ duy cho HS.
Chức năng kiểm nghiệm(Test) của CNTT có tính độc đáo ở chỗ cho phép kiểm nghiệm đƣợc một loạt trƣờng hợp riêng lẻ trong một thời gian rất ngắn. Học theo cách học thông thƣờng, muốn kiểm nghiệm một tính chất nào đó của một hình cần phải vẽ các hình khác nhau để kiểm nghiệm rất mất thì giờ.