Chương 1, tôi trình bày về cơ sở lý luận của năng lực, năng lực toán học chuyên biệt, một số phương pháp phát triển các năng lực toán học chuyên biệt; khảo sát thực tiễn dạy học chủ đề giải bài toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình lớp 9 và các nhận xét, đánh giá. Tiếp theo, Chương 2 làm rõ hơn những biện pháp phát triển các năng lực toán học cụ thể đã được đề cập ở chương trước, đặc biệt đối với nhóm học sinh có trình độ trung bình/khá thông qua dạy học chủ đề giải bài toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình trong chương trình toán lớp 9. Sau cùng, Chương 3 trình bày kết quả của các hoạt động thực nghiệm sư phạm thông qua hệ thống phiếu kiểm tra với các 7 mức độ về yêu cầu cần đạt khác nhau và đưa ra các kết luận ban đầu dựa trên những kết quả đó. - Kết luận và khuyến nghị.
- Tài liệu tham khảo và phụ lục. Tổng quan nghiên cứu Tôi viết luận văn này dựa trên tính cấp thiết của việc phát triển năng lực cho học sinh. Trên thực tế, phát triển năng lực là chủ đề được rất nhiều luận văn lựa chọn. Tuy nhiên, luận văn này chú trọng đến phát triển ba năng lực toán học chuyên biệt là năng lực giải quyết các vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán cho nhóm học sinh có trình độ khác nhau trong dạy học chủ đề giải bài toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình.
Để phát triển ba năng lực chuyên biệt nêu trên, tôi nêu hai phương pháp trong Chương 2 của luận văn này, đó là hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán dựa trên một số mẫu cơ bản và sử dụng máy tính cầm tay trong quá trình giải phương trình/hệ phương trình để hỗ trợ kiểm tra đáp số hoặc phát hiện các lỗi sai đại số. Để thực hiện hai phương pháp trên, tôi sử dụng các phiếu kiểm tra riêng biệt cho từng mục đích và đánh giá dựa trên mức độ hoàn thành khác nhau cho mỗi phiếu. Quá trình kiểm tra, đánh giá được lặp lại trong thời gian trung bình từ 3 – 4 tháng cho mỗi học sinh. Dạy học phát triển năng lực 1.
Khái niệm năng lực Năng lực có thể được hiểu bằng nhiều định nghĩa khác nhau. Cụ thể, năng lực có thể được hiểu là khả năng giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng [7, tr. Theo [4], năng lực được đánh giá qua phương thức và kết quả của hoạt động trong việc giải quyết các vấn đề. Mặt khác, năng lực có thể được hiểu là khả năng thực hiện tốt một nhiệm vụ cụ thể trong thời điểm cụ thể và sự sẵn sàng hành động [2, tr.
Tổng kết lại, tôi thấy rằng người học có năng lực về một hoạt động nào đó được biểu hiện qua một số dấu hiệu cơ bản sau: - Thực hiện hoạt động dựa trên hiểu biết, kiến thức nhất định về hoạt động. 9 - Biết các bước thực hiện hoạt động, có kết quả phù hợp với mục đích đưa ra, xác định được mục tiêu, phương pháp và các điều kiện để thực hiện hoạt động đó. - Xử lí vấn đề linh hoạt, chủ động, sẵn sàng trong những trường hợp không quen thuộc, dựa trên những hiểu biết đã có. Dạy học phát triển năng lực Dạy học phát triển năng lực được hiểu là sau quá trình dạy và học thông qua các hoạt động cụ thể, học sinh có được một số năng lực ở mức độ xác định.
Các khía cạnh trong dạy học phát triển năng lực: (1) Về mục tiêu, dạy học phát triển năng lực hình thành các kiến thức, kỹ năng nhằm giúp học sinh giải quyết một số vấn đề cụ thể. (2) Về nội dung dạy học, dạy học phát triển năng lực nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hành, áp dụng vào các trường hợp đa dạng nên bài tập thường để mở, kích thích được sự tìm tòi, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu để phát hiện kiến thức mới, nâng cao tri thức của học sinh. (3) Về phương pháp tổ chức, dạy học phát triển năng lực chú trọng các hoạt động nhằm gợi mở kiến thức cho học sinh, thay vì đưa cho học sinh lời giải cụ thể ở một bài tập cụ thể. Giáo viên chỉ hướng dẫn các bước làm, hỗ trợ giải đáp thắc mắc của học sinh và để học sinh tự thực hiện các hoạt động học, rồi rút kinh nghiệm, trong đó, đặc biệt đòi hỏi học sinh phải đưa ra các câu hỏi, ý kiến sau các hoạt động học cụ thể, từ đó phát triển năng lực dựa trên kinh nghiệm cá nhân.
(4) Về đánh giá kết quả đầu ra, dạy học phát triển năng lực giúp học sinh có khả năng tự hoàn thiện được một số kỹ năng cần thiết để tiếp thu kiến thức một cách chủ động, ít phụ thuộc vào học liệu, tự tin xử lý các vấn đề một cách có hệ thống, có phương pháp, không chỉ ở nội dung nhất định nào đó mà cả ở những vấn đề khác trong quá trình học tập. Các năng lực chuyên biệt 10 Dạy học phát triển các năng lực trong dạy học chủ đề giải toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình cho học sinh lớp 9 cần hình thành, phát triển cho học sinh những năng lực chuyên biệt: (1) Năng lực tư duy và lập luận toán học: học sinh quan sát được, tìm kiếm được sự giống và khác nhau trong các giả thiết của bài toán; học sinh lập luận hợp lý, có cơ sở, lí lẽ dựa trên giả thiết trước khi đưa ra kết luận; học sinh có thể phân tích, phát hiện và nêu được các vấn đề đặt ra trong bài toán, xác định được dạng và các công thức liên quan đến bài toán, liên kết các bài toán có tính chất tương tự, phát triển bài toán gốc thành các bài toán tương tự hoặc đa dạng hóa bài toán gốc thành các bài toán mới. (2) Năng lực mô hình hóa toán học: học sinh biết sử dụng các phép toán, công thức liên quan đến dạng toán, bảng biểu để mô tả, kết nối các ý tưởng từ giả thiết của bài toán. (4) Năng lực giao tiếp toán học: học sinh có thể trình bày được lập luận, nội dung của bài toán với giáo viên hoặc những học sinh khác một cách đầy đủ, chính xác, trôi chảy và tự tin.
Thực tế, học sinh không chỉ cần biết cách giải các bài toán mà còn quan trọng là có khả năng trình bày lập luận và nội dung của bài toán một cách rõ ràng và ổn định, không lặp từ và đồng thời chú ý đến cấu trúc câu. Điều này nhằm đảm bảo nội dung câu truyền đạt chính xác nhất. Thêm vào đó, việc trình bày tự tin thể hiện khả năng giao tiếp toán học nói riêng và khả năng giao tiếp toàn diện nói chung. Có nhiều phương thức giúp phát triển năng lực giao tiếp toán học, cụ thể là: 11 Giảng dạy và thảo luận: Học sinh tham gia vào các buổi giảng dạy và thảo luận/trình bày về các vấn đề toán học giúp rèn luyện khả năng trình bày ý tưởng một cách rõ ràng và logic.
Quá trình thảo luận cũng giúp nâng cao khả năng nghe - hiểu. Thực hành giảng dạy: tự trình bày lại các nội dung toán học cho người khác là một cách thực hành giảng dạy nhằm củng cố hiểu biết và phát triển khả năng truyền đạt. Việc giảng dạy có thể diễn ra trong nhóm học tập, trong lớp, hoặc trên các nền tảng trực tuyến giúp tăng cường kỹ năng giao tiếp qua việc trao đổi ý kiến, thảo luận và giải quyết vấn đề cùng nhau. Quá trình này lặp lại nhiều lần thì học sinh sẽ rèn được khả năng trình bày trôi chảy, mạch lạc, tự tin hơn trong giao tiếp toán học nói riêng và trong giao tiếp cơ bản nói chung.
Thực hiện các bài kiểm tra nói: trực tiếp thực hiện bài nói có nội dung toán giúp rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề và trình bày kết quả toán học trong thời gian giới hạn. Học từ phản hồi: liên tục học từ phản hồi của người dạy, người học khác giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách cải thiện cách giao tiếp toán học của mình, cụ thể là về cách sử dụng từ ngữ/câu, về thái độ tự tin trong giao tiếp và về nội dung toán học muốn truyền tải. Bằng cách kết hợp những hoạt động trên, học sinh có thể phát triển không chỉ năng lực giao tiếp toán học trên khía cạnh truyền đạt hiệu quả nội dung toán học bằng lời, mà còn hỗ trợ phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học trên khía cạnh trình bày lời giải bài toán bằng lời văn một cách trôi chảy, chính xác hơn. Hai năng lực này có sự tương tác qua lại lẫn nhau và hỗ trợ nhau phát triển: khả giao tiếp toán học tốt giúp thúc đẩy quá trình giải quyết vấn đề toán học nhanh nhạy hơn và ngược lại, khả năng giải quyết vấn đề toán học tốt giúp việc giao tiếp toán học tự tin, trôi chảy hơn.
12 (5) Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán: học sinh có thể tự kiểm tra tính đúng đắn của phương trình, hệ phương trình bước đầu được đưa ra bằng máy tính cầm tay; học sinh có thể tự khẳng định tính đúng đắn của đáp án giải được dưới sự hỗ trợ của máy tính cầm tay; học sinh có thể linh hoạt sử dụng máy tính cầm tay, nhận biết một số đặc điểm (ưu điểm và hạn chế) của các công cụ trên máy tính cầm tay để hỗ trợ quá trình giải phương trình, hệ phương trình nhanh, chính xác hơn. Cụ thể, việc sử dụng máy tính cầm tay trong quá trình học tập có thể mang lại nhiều lợi ích về mặt phát triển năng lực cho học sinh. Dưới đây là một số cơ sở lý luận chính: Tiện ích và linh hoạt: sử dụng máy tính cầm tay thành thạo mang lại sự tiện ích và linh hoạt cho học sinh mà không nhất thiết phải có sự hỗ trợ của người dạy trong việc kiểm tra đáp số bài toán; máy tính nhỏ gọn và di động giúp học sinh có thể học tập mọi lúc, mọi nơi, không bị ràng buộc về không gian hay thời gian. Phát triển kỹ năng khoa học và công nghệ: sử dụng máy tính cầm tay giúp học sinh trở nên quen thuộc với công nghệ, đồng thời phát triển kỹ năng sử dụng các ứng dụng và công cụ công nghệ khác.