Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. Chương 2: Dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực môn Ngữ văn cho học sinh Trung học cơ sở. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm năng lực Năng lực (competence) là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latin “competentia” đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và có mặt trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: tâm lý học, triết học, xã hội học, giáo dục học, kinh tế học,… Năng lực bao hàm nhiều nghĩa đa dạng, trừu tƣợng đa chiều, đa nghĩa và đƣợc xem xét từ nhiều bình diện khác nhau, khó có thể thống nhất về nội hàm của nó. Tuy nhiên, có thể tập trung vào một tâm điểm ngữ nghĩa rút ra từ một số từ đồng nghĩa hoặc nhiều nghĩa tƣơng đồng nhƣ “khả năng” (ability), “năng khiếu” (aptitude), “tiềm năng” (capability), “sự thành thạo” (proficiency), “hiệu suất” (efficiency) “hiệu qủa” (effectiveness) và “kỹ năng” (skills). Từ điển Webster định nghĩa từ này là “fitness hoặc ability” (sự phù hợp hoặc khả năng). Từ này có nguồn gốc từ tiếng Latin đƣợc hiểu có nghĩa nhƣ “cognizance” (sự hiểu biết/sự nhận thức) hay “responsibility” (trách nhiệm).
Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khái niệm về năng lực nhƣ: “1- Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. 2- Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao" [23, tr. “Khả năng đƣợc hình thành và phát triển, cho phép con ngƣời đạt đƣợc thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực đƣợc thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ"; “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.
Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân" [15, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực là biết sử dụng các kiến thức và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa (Rogiers, 1996). Năng lực là một tập hợp các kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp với một hoạt động thực tiễn (Barnett, 1992). Theo John Erpenbeck, “Năng lực đƣợc tri thức làm cơ sở, đƣợc sử dụng nhƣ khả năng, đƣợc quy định bởi giá trị, đƣợc tăng cƣờng qua kinh nghiệm và đƣợc hiện thực hoá qua ý chí”.
Weinert định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Tổ chức OECD khẳng định “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. Năng lực đƣợc cấu thành từ 4 bộ phận: + Tri thức: làm cơ sở cho năng lực. Không có tri thức, không có năng lực.
+ Phẩm chất, giá trị: làm định hƣớng cho năng lực. Nếu giá trị méo mó, lệch lạc sẽ làm cho năng lực phát triển sai, đi theo cái xấu. + Kĩ năng, kinh nghiệm: làm nhiệm vụ tăng cƣờng, hỗ trợ cho năng lực, Kĩ năng và kinh nghiệm là một phần quan trọng và không thể thiếu đƣợc của năng lực. + Cảm xúc, động cơ: làm cho con ngƣời ta hăng hái, sẵn sàng, thăng hoa, từ đó thúc đẩy phát triển năng lực, đủ điều kiện hiện thực hóa mọi tình huống.
Các tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cƣờng trong cuốn “Lý luận dạy học hiện đại” định nghĩa: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động”. Tựu chung, năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ, kinh nghiệm, sự sẵn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sàng hành động và trách nhiệm. Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động bao gồm: năng lực tìm tòi, khám phá; năng lực xử lí thông tin; năng lực vận dụng và giải quyết vấn đề; năng lực hợp tác.
Bởi vậy, năng lực trong giáo dục còn đƣợc hiểu là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động. Quan điểm và mô hình dạy học tiếp cận năng lực Từ những năm 90, khi manh nha xu hƣớng đổi mới giáo dục, trên thế giới tồn tại hai cách tiếp cận chủ yếu của chƣơng trình giáo dục là: tiếp cận nội dung hoặc chủ đề (Content or topic based approach) - với mô hình trƣờng học M1, và tiếp cận kết quả đầu ra (outcome - based approach or outcome - forcused curriculum) - mô hình M2, M3, M4 (Đặng Tự Ân, trƣởng dự án GPE - VNEN). Tiếp cận nội dung hay còn gọi Giáo dục định hƣớng nội dung dạy học, định hướng đầu vào là cách tiế p câ ̣n kinh điể n trong viê ̣c xây dƣ̣ng c hƣơng trình đào tạo, mục tiêu đào tạo chính là nội dung đào tạo , phƣơng pháp da ̣y học nhằm truyền đạt nội dung dạy học. Cách tiếp cận này thể hiện đậm đặc ở mô hình M1 đƣợc hình thành và triển khai từ Chƣơng trình giáo dục sau năm 2000 (CT2000), theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội.
Nội dung các môn học đƣợc xây dựng trên cơ sở thừa kế thành tựu của các ngành khoa học tƣơng ứng. Nhƣ vâ ̣y, bản chất của quá trình d ạy học là quá triǹ h truyề n thụ nội dung dạy học. Tức là tập trung xác định và trả lời cho câu hỏi Chúng ta muốn học sinh cần biết cái gì? (What we want students to know?). Mặc dù có ƣu điểm lớn là kiến thức cần hình thành cho HS đƣợc trình bày theo hệ thống lớp học và cấp học một cách bài bản.
Nhƣng chính bởi chỉ quan tâm đầu vào nội dung dạy học, nên Giáo dục định hƣớng nội dung chƣa chú trọng đầy đủ chủ thể người học cũng nhƣ khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực tiễn cuộc sống. Mục tiêu dạy học thƣờng đƣa ra chung chung, khó đo đếm để đánh giá ngƣời học, đánh giá chất lƣợng dạy học theo mục tiêu đã đề ra. Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn HS cần biết cái gì? Tuy góp phần đáng kể vào sự nghiệp giáo dục của nƣớc nhà, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và sự tăng tốc vũ bão của công nghệ thông tin nhƣ hiện nay, chƣơng trình giáo dục định hƣớng nội dung đã tỏ ra không còn ƣu thế. Chương trình tiếp cận theo đầu ra, hay còn gọi Chƣơng trình dựa trên cơ sở năng lực - gọi tắt là tiếp cận năng lực (Comptence - Curriculum) xuất hiện những hạn chế bất cập trong mô hình M1 sẽ đƣợc khắc phục trong mô hình M2 (hiện nay tồn tại và phát triển thêm M3, M4 với định hƣớng tiếp cận tƣơng tự).
Tiếp cận kết quả đầu ra “là cách tiếp cận nêu rõ kết quả - những khả năng hoặc kĩ năng (abilities or skills) mà HS mong muốn đạt đƣợc vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trƣờng ở một môn học cụ thể” [25]. Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? (What we want students to know and to be able to do?). Chƣơng trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, nhằm phát triển phẩm chất và năng lực ngƣời học. Đó là là cách tiếp cận nêu rõ HS sẽ làm được gì và làm như thế nào vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trƣờng.
Đặc điểm của mô hình M2 là: (1) Cách tiếp cận này không những đòi hỏi HS nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống; tính chất và kết quả hoạt động cũng phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, niềm tin, đạo đức… của ngƣời học nên Chƣơng trình cũng rất chú trọng đến mục tiêu phát triển các phẩm chất của HS; phát triển các phẩm chất chủ yếu và các năng lực chung mà mọi HS đều cần có, đồng thời phát triển các phẩm chất và năng lực riêng của từng em; tập trung vào việc dạy và học như thế nào? Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các thành tố trong Chương trình giáo dục hiện đại. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chỉ lựa chọn những nội dung đƣa vào nhà trƣờng là cơ bản, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi HS, liên quan và có vai trò trong việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho HS. Hình thành hệ thống các môn học bắt buộc và tự chọn ở cả hai giai đoạn giáo dục là Cơ bản và Định hƣớng nghề nghiệp.
Có một Chƣơng trình và có nhiều bộ sách. (3) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo định hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tƣợng HS và điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở giáo dục phổ thông. Đa dạng hoá hình thức tổ chức học tập, coi trọng cả dạy học trên lớp và các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo, tập dƣợt nghiên cứu khoa học. Phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trƣờng, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.