CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU Biến đổi khí hậu là vấn đề nóng bỏng được cả thế giới quan tâm. Trong những năm 80 của thế kỷ trước, những bằng chứng thuyết phục về khả năng BĐKH đã dẫn đến sự quan tâm chung ngày càng tăng của cộng đồng thế giới. Từ năm 1990, một loạt các hội nghị quốc tế đã đưa ra những lời kêu gọi khẩn cấp để có một hiệp ước toàn cầu về vấn đề này.
Năm 1992 ở Rio de Janeiro, Braxin, 155 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ký công ước khung của Liên hiệp quốc và BĐKH. Mục tiêu của Công ước là nhằm “ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu”. Năm 1997, với hội nghị Kyoto với Nghị định thư KYOTO đã được sự phê chuẩn của 165 quốc gia nhằm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính thông qua thực hiện “Cơ chế phát triển sạch”. Năm 2009, hội nghị BDKH ở Copenhaghen được diễn ra, tiếp tục bàn về các giải pháp ứng phó vơi tình hình BĐKH.
Năm 2011, hội nghị Liên hiệp quốc về BĐKH lần thức 17 được tổ chức tại Durban, Nam Phi (28/11 đến 9/12/2011), với sự tham gia của các đại biểu đến từ 194 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của Công ước khung Liên hiệp quốc vê BĐKH (UNFCCC). Mục tiêu lớn lao của chương trình nghị sự hàng đầu của hội nghị lần này là đạt cho được một thỏa thuận kế tục cho Nghị định thư KYOTO 1997, sẽ kết thúc hiệu lực giai đoạn một vào năm 2013. Đây là thỏa thuận duy nhất cho đến nay về việc hạn chế mức phát thải các loại khí gây hiệu ứng nhà kính làm trái dất ấm nóng lên, dẫn đến khí hậu trái đất thay đổi bất lợi cho con người. Một điều chắc chắn rằng sự quan tâm về BĐKH không dừng lại ở đó, trong những năm tới thế giới sẽ nỗ lực đưa ra hành động chung trước vấn đề BĐKH.
Tại Việt Nam vấn đề BDKH đang được dặc biệt quan tâm Việt Nam đã sớm xây dựng những chiến lược và các chương trình quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu và thực hiên một số dự án. Dự án “Biến đổi khí hậu ở Châu á: Việt Nam” (1992 – 1994) do Viện Quy hoạch Thủy lợi - Bộ Thủy lợi và Viện Khí tượng thủy văn nhằm đánh giá, phân tích hiện tượng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và tác động của Biến đổi khí hậu trên phạm vi Châu á, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, đồng thời đưa ra những biện pháp ứng phó. Năm 2002 – 2005 tổ chức CECI (Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada) thực hiện dự án: “Xây dựng năng lực thích ứng với Biến đổi khí hậu ở miền trung Việt Nam”. Năm 2004, báo cáo quốc gia về nỗ lực thích ứng vói BĐKH: “Biến đổi khí hậu và phòng ngừa thảm họa” của Hội chữ thập đỏ đã phân tích và đưa ra biện pháp để Việt Nam học cách sống chung với BĐKH hay thích ứng với một thực tại mới.
Năm 2006, Roger Few đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng với BĐKH, quản lý rủi ro thiên tai và giảm nghèo ở Việt Nam trong báo cáo: “Linking Climate Change Adaptation and Disaster Risk Management for Sustainable Poverty Reduction Vietnam Country Study”. Báo cáo đã xét đến nguy cơ, các tác động BĐKH và cách tiếp cận ở Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam còn xây dựng các chuyên đề Thủy lợi, nông nghiệp năm 2007, “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH” năm 2008, “Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu” năm 2011 và “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015” nhằm đánh giá tổng quan về BĐKH và đưa ra những chính sách thích ứng, giảm thiểu. Giáo dục nâng cao nhận thức về BĐKH là một trong những giải pháp tốt nhất để ứng phó với BĐKH [6], thông qua giáo dục tạo cảm xúc, thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ đối với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, giải pháp về tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường của Nghị quyết đã chỉ rõ: Đa dạng hóa hình thức, đổi mới nội dung, xác định các đối tượng ưu tiên tuyên truyền, giáo dục; đưa nội dung ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo các cấp học phổ thông, đại học, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý. Phổ biến kinh nghiệm, xây dựng năng lực, kỹ năng phòng tránh thiên tai, thích ứng với BĐKH cho mọi người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về BĐKH [40] Trong nhiệm vụ 7 mục c- Nâng cao nhận thức, giáo dục và đào tạo của Chiến lược quốc gia về BĐKH đã nêu: - Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và các thành phần xã hội về các vấn đề BĐKH. - Xây dựng các phương pháp phù hợp nhằm tiếp cận và sử dụng thông tin về BĐKH cho các thành phần xã hội; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến về tác động, nguy cơ và cơ hội từ BĐKH, đặc biệt chú trọng tới cộng đồng dân cư và địa bàn trọng điểm.
- Đưa kiến thức cơ bản về BĐKH vào trong các chương trình, bậc giáo dục, đào tạo; phát triển và có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các chuyên ngành liên quan đến thích ứng với BĐKH và giảm phát thải khí nhà kính. - Tăng cường ý thức, trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm cộng đồng trong phòng, tránh và khắc phục hậu quả thiên tai; xây dựng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với khí hậu cho mọi thành viên của cộng đồng; khuyến khích, nhân rộng các điển hình tốt trong ứng phó với BĐKH. * Quyết định số 4619/QĐ- BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2010 về việc phê duyệt Dự án “Đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015”[5] Mục tiêu chung: Đưa được các nội dung về BĐKH và ứng phó với BĐKH trình giáo dục và đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu cụ thể: - Đến 2013, biên BĐKH và ứng phó với BĐKH và cung cấp cho các cơ sở GD.
- Đến 2014, 100% giáo viên, giảng viên đứng lớp được trang bị kiến thức về BĐKH và ứng phó với BĐKH; - Đến 2015, 100% học sinh, sinh viên được trang bị kiến thức về BĐKH và ứng phó với BĐKH. * Quyết định số 158/ 2008/ QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH [39] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhiệm vụ 5 của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH là: Nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực, có 3 chỉ tiêu đến 2015 cần đạt được, cụ thể như sau: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn xã hội về BĐKH; đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao. + Hoàn thiện, cập nhật và phổ cập rộng rãi tài liệu và phương tiện phục vụ nâng cao nhận thức; + Triển khai kế hoạch nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục, đào tạo các cấp. + Trên 80% cộng đồng dân cư và 100% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết cơ bản về biến đổi khí hậu và các tác động của nó.
Những đề tài nghiên cứu về BĐKH được nghiên cứu ngày càng nhiều. Các cuộc hội thảo, các chương trình, các dự án về lồng ghép tích hợp BĐKH trong các cấp học, các lĩnh vực đã được thực hiện ở nhiều cấp. Việc đưa giảng dạy tích hợp BĐKH vào trường phổ thông là vấn đề được rất nhiều nhà khoa học và các nhà giáo dục quan tâm. Hiện đã có một số luận văn nghiên cứu về nội dung lồng ghép tích hợp Biến đổi khí hậu trong nhà trường như: Tổ chức giáo dục vì sự phát triển bền vững – trong chương trình sách giáo khoa Địa lý lớp 10 (Nguyễn Thị Thúy Hường); Tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án về Biến đổi khí hậu với sự hỗ trợ của Internet trong dạy học Địa lý lớp 6 – THC (Hà Văn Thắng); Thiết kế và tổ chức các dự án học tập về truyền thông Biến đổi khí hậu trong dạy học Địa lý lớp 10 – THPT (Nguyễn Thị Dung); Tích hợp giáo dục môi trường và Biến đổi khí hậu trong dạy học Sinh thái học Quần thể - Sinh học 12 – THPT (Chu Thị Thu Hương) Những luận văn trên đã đưa ra một số cách thức tiếp cận, cách thức thiết kế và tổ chức thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung BĐKH vào chương trình, môn học ở trường phổ thông, đem lại các sản phẩm giáo dục hữu ích, thiết thực trong điều kiện toàn nhân loại cũng như Việt Nam đang đối phó với BĐKH như hiện nay.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cách tiếp cận 1. Tiếp cận hệ thống Khái niệm hệ thống và tiếp cận hệ thống Về khía cạnh triết học, khái niệm hệ thống được hiểu là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một chỉnh thể trọn vẹn; và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, chúng lại tạo nên những thuộc tính mới. Các thuộc tính mới này không có ở các yếu tố cấu trúc khi chúng đứng riêng lẻ.
Mối tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã sản sinh ra động lực cho sự tự thân vận động và phát triển của hệ thống. Von Bertalanffy xác định một cách ngắn gọn: “Hệ thống là một tổng thể các phần tử có quan hệ, có tương tác với nhau” [40].