CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ THEO MÔ HÌNH “DẠY HỌC KẾT HỢP” 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học của học sinh “Trong lịch sử giáo dục, vấn đề bồi dưỡng NLTH cho HS đã được quan tâm từ rất sớm, thể hiện qua tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, R.Sing ở Phương Đông cổ đại hay Socrate ở Phương Tây.
Họ đều đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình học tập, người học phải tích cực, chủ động, tự tìm ra kiến thức cho mình và trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những kiến thức tiềm ẩn bên trong mỗi HS, phải dạy cho HS biết cách tự học”[5]. Đến thời kì Phục Hưng ở châu Âu, J.A Komenxki(1592-1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã nêu ra những nguyên tắc, những PPDH nhằm bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học như: xây dựng hoài bão, tạo động cơ để người học có động lực vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh tri thức,…“Cral Roger - nhà tâm lý học người Mỹ với quan điểm cho người học tự ý thức, an toàn và tự do để lựa chọn cách học và phải có trách nhiệm đầy đủ về quyết định và kết quả học tập của họ. Nhiệm vụ của GV là xây dựng môi trường học tập tin cậy, an toàn trở thành người cùng học, chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và kỹ thuật học tập [16]. Robert Fisher trong tác phẩm Dạy trẻ học đã đưa ra 10 chiến lược rất hiệu quả trong việc hướng dẫn cách học là: tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng tự học rất hiệu quả”.
Rubakin [15] trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học. Theo ông, việc tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học”.Kharlamov trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào” [9]; R.Retzke trong cuốn “Học tập hợp lý” đã khẳng định vai trò của tự học, tự nghiên cứu trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới.” 6 Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học của học sinh. Nhà sư phạm người Nhật T. Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã cho rằng giáo dục chính là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng.Thời gian này còn có nhiều quan điểm đề cao sự hoạt động tích cực của học sinh, khuyến khích hình thành và bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học của học sinh bằng cách chú trọng cá thể hóa, để học sinh tự do phát triển theo những năng khiếu riêng biệt như: O.Freinel…” Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò”.
Đặc biệt nhà tâm lý học Mỹ Carl Roger [16] đã cho ra đời cuốn "Phương pháp dạy và học hiệu quả" trong đó trình bày chi tiết, tỉ mỉ với dẫn chứng minh hoạ và thực nghiệm về các phương pháp dạy học để hình thành kỹ năng tự học cho người học như: cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước, chia nhóm dạy học, hướng dẫn cho người học cách nghiên cứu tài liệu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự đánh giá việc học của mình. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, dạy học lấy HS làm trung tâm là chủ trương giáo dục toàn cầu, với định hướng coi trọng tự học, tự đào tạo, với quan điểm con người có thể thích ứng với đòi hỏi của xã hội hiện đại chỉ khi họ học được cách tự học. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu nâng cao chất lượng DH theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS. Trong đó, quan điểm dạy học phải bao hàm cả dạy tự học, bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học của học sinh là cần thiết được các nhà khoa học nghiên cứu như: Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm “Tự học để thành công”, Lê Khánh Bằng với “Tổ chức quá trình dạy học Đại học” hay bài viết “Tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học)”, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997- 2000 cho giáo viên Trung học cơ sở của Trần Bá Hoành.
Nguyễn Cảnh Toàn và đồng sự cũng có nhiều bài viết về cơ sở 7 khoa học, tính cấp thiết, khả thi của tự học và dạy tự học, như “Tự học như thế nào cho tốt”, “Học và dạy cách học”; và còn nhiều nghiên cứu khác xoay quanh nội dung nâng cao hiệu quả đào tạo, các biện pháp bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học của học sinh. Gần đây, trong lĩnh vực Lí luận và PPDH bộ môn Vật lí, có nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, các nghiên cứu sinh và học viên cao học quan tâm tới việc nghiên cứu hướng dẫn học sinh cách tự học, nghiên cứu làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn về các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học của học sinh như: “Đề xuất khung năng lực và định hướng dạy học môn vật lí ở trường Phổ Thông” của Nguyễn Văn Biên”; “Tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực cho học sinh trong dạy học một số kiến thức cơ học, điện học vật lí lớp 10, 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” - Luận án TS - Nguyễn Thị Nhị (2010); “Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học theo môđun chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lý 12”- Đoàn Thanh Hà (2012) ; “Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều ” Vật lí 12 nâng cao”- Nguyễn Thị Kim Cương (2010); “Biên soạn tài liệu và hướng dẫn học sinh tự học theo môđun trong dạy học chương “Dao động cơ” Vật lí 12- Lê Trương Thủy Yên (2015); “Xây dựng và sử dụng website chủ đề “ Dao động và sóng điện từ”- Vật lí 12 theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh”- Nguyễn Văn Kiên (2019)… 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học theo mô hình “Dạy học kết hợp” - Dạy học kết hợp (Blendel Learning) đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu. Có nhiều quan niệm về dạy học B-Learning: + Dạy học Blendel Learning được Alvarez (2005) định nghĩa là sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể.
+ Theo Bonk và Graham (2006), dạy học Blendel Learning là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương tiện truyền thông; kết hợp các phương pháp giảng dạy; kết hợp học tập trực tuyến và dạy học truyền thống (F2F) 8 + Tác giả Victoria L. Tinio cho rằng “dạy học kết hợp để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp E-Learning”. [24] + Các nghiên cứu của tác giả Osguthope và Graham (2003); Graham, Allen, Ure (2003) đã chỉ ra các lí do để áp dụng Blendel Learning là: Sự phong phú của các phương pháp sư phạm; Tiếp cận với sự hiểu biết; Sự tương tác xã hội, tính truy cập và sự linh hoạt; Tăng hiệu quả chi phí; Dễ dàng sửa đổi. + Một nghiên cứu năm 2013 về học tập kết hợp được hoàn thành bởi NACOL ở bang Idaho cho thấy việc tự học có mối tương quan tích cực với chất lượng công việc, mức độ quan tâm, sự kiên trì của học sinh trong quá trình học và khả năng theo dõi học sinh học tập của giáo viên.
+ Một nghiên cứu của ADL cho thấy rằng khi dạy kiến thức về sự kiện hoặc định nghĩa thì các mô hình học tập kết hợp đã tăng hiệu quả với tỷ lệ 13%. Khi dạy kiến thức về cách thực hiện một nhiệm vụ hoặc hành động thì hiệu quả tăng 20% với mô hình học tập kết hợp. - Ở Việt Nam, việc nghiên cứu lí luận về dạy học B-Learning đã được một số tác giả đề cập đến trong một số bài báo, tạp chí giáo dục như: + “Vận dụng mô hình B-Learning trong dạy học môn Vật Lý ở trường phổ thông” và “Tổ chức hoạt động dạy học theo B-Learning đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo sau 2015” của nhóm tác giả Trần Huy Hoàng và Nguyễn Kim Đào - Tạp chí Khoa học giáo dục (Số 127, 4/2016) và Tạp chí Khoa học của trường Đại học Văn Hiến (Số 5, 11/2014). + “Blended learning trong dạy học Hóa Học ở trường Trung học phổ thông” - Nguyễn Hoàng Trang - Tạp chí Giáo dục Số Đặc biệt (Kì 2, 10/2017).
+ “Lớp học nghịch đảo –Mô hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến” - Nguyễn Văn Lợi -Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ (Số 34-2014). Những nghiên cứu trên mới chỉ dừng ở mức nghiên cứu lí thuyết và đề xuất giải pháp vận dụng ở phạm vi nhỏ, số đề tài nghiên cứu áp dụng dạy học Blendel Learning vào từng phần cụ thể trong từng bộ môn, đặc biệt là vận dụng mô hình Blendel Learning trong dạy học Vật lí ở trường THPT còn chưa nhiều. Quan niệm về năng lực, năng lực tự chủ và tự học 1. Năng lực Năng lực (NL) là một kհái niệm có nհiều cácհ tiếp cận, cácհ diễn đạt kհác nհau.
- Một số quan niệm về năng lực ở nước ngoài: + Tհeo tổ cհức các nước kinհ tế pհát triển OECD (2002), “Năng lực là kհả năng cá nհân đáp ứng các yêu cầu pհức հợp và tհực հiện tհànհ công nհiệm vụ trong một bối cảnհ cụ tհể”[23] + F. + Tհeo Joհn Erpenbeck: “Năng lực được tri tհức làm cơ sở, được sử dụng nհư kհả năng, được quy địnհ bởi giá trị, được tăng cường qua kinհ ngհiệm và tհực հiện հóa qua cհủ địnհ” + D.S Rycհen và L.