Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC CHỦ ĐÈ CHÁT VÀ CHỦ ĐÈ NĂNG LƯỢNG TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP BÓN THEO PHƯƠNG THỨC TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Dạy học phát triển NL theo phương thức trải nghiệm không phải lả vấn để mới ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Khi thực hiện đổi mới CT GDPT 2018, dạy học theo phương thức trải nghiệm là một trong các định hưởng về phương pháp dạy học nhằm phát triển NL và PC cho HS. Xuất phát từ định hướng về phương pháp này mà các nghiên cứu về dạy học theo phương thức trải nghiệm được nhiều chuyên gia và GV đang cỗ gắng vận dụng cũng như triển khai trong thực tế.
Tinh đến thời điểm hiện nay, đã có những nghiên cứu trong nước và thế giới về tổ chức dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm, đề cao những ưu điểm của dạy học trải nghiệm đó là góp phần thay đổi tư duy giáo dục, lấy người học, các hoạt động học làm trung tâm, hướng tới sự phát triển NL cá nhân, hình thành những PC tốt đẹp cho người học. Tuy nhiên, khi GV tiễn bành giáng dạy môn Khoa học theo CT GDPT 2018 thì tải liệu nghiên cứu về dạy học theo phương thức trải nghiệm cho HS tiểu học vẫn còn hạn chế, trong khi đây là môn học nễn tảng giúp HS có những hiểu biết về tính chất quy luật của các sự vật hiện tượng tự nhiên, phát triển kĩ thực hành thi kĩ năng đó vào cuộc sống thưởng ngày. L Trên thế giới Hơn 2000 năm trước, Không Tử (551 - 479 TCN) đã bảy t6 quan điểm: "Niưững gi tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ: Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu". Tư tưởng nảy lim nổi bật sự quan trọng của việc học thông qua trải nghiệm vả hãnh động.
Cùng thời gian đó ở phương Tây, nhà triết học Hi Lạp - Xôcrát (470 - 399 TCN) cũng đã đưa ra quan điểm tương tự: *Ngưởi ta phải học bằng cách làm một việc gì đó: Với những điễu bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm m Những nguyên lí này được xem là những nguồn gốc đầu tiên của tư duy học tập thông. qua trải nghiệm, bọc hành và hành động đi đôi với nhau (Trung tâm hỗ trợ giáo dục thanh thiếu niên Việt Nam, 201 1). Trên bản đồ giáo dục thể giở phương pháp dạy học trai nghiệm dã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu từ cuỗi thể ký XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Một trong những bước tién dau tiên của cuộc cách mạng trong lĩnh vực giáo dục là xuất hiện của nhóm tác giá Nga.
Vygotski (1896-1943), một nhà tâm lí học, đặt nễn móng cho lí thuyết về "Vùng cận phát triển." Lí thuyết này để cập đến cơ chế học tập thông qua sự kết hợp giữa học cá nhân và học hợp tắc, tập trung vảo việc truyền đạt kinh nghiệm xã hội từ GV đến HS và sự trao đổi, học hỏi kinh nghiệm giữa các HS. Quan điểm tương tác phát triển của L. Vygotski đã mở ra một trảo lưu mới trong giáo dục, được biết đến với tên gọi "day học tích cực" (Đặng Thành Hưng, 2012). John Dewey (1859-1952), trong téc phim "Kinh nghiệm vả Giáo dục," đã chi ra những hạn chế của mô hình giáo dục truyền thống mà ông mô tả như một "tô chức” chứa đựng nhiều luật lệ, quy tắc và thủ tục cứng nhắc.
Điều nảy đã tạo ra một mỗi trưởng giáo dục làm hạn chế sự tích lũy kiến thức của HS, khiến người học trở nên bị động và thiểu sáng tạo. Dewey đã phê phán quan điểm truyền thông xem nội dung giáo đục như là những trí thức luôn đúng vả không thể thay đổi. Ông để xuất rằng nội dung giáo dục cần phải linh hoạt, thích ứng với sự biển đổi trong xà hội vả trải nghiệm cá nhân của mỗi HS. Theo triết lí giáo dục của Dewey, "Nếu bạn nói, tôi sẽ quên.
Nêu bạn chỉ dẫn, tỏi sẽ nhở một mứa. Và nêu bạn đề tỏi làm, tôi sẽ không thể quên," ông nhẫn mạnh rằng trải nghiệm là trung tâm của quá trình học tập (John Dewey, 2012). John Dewey khẳng định rằng tắt cả các trải nghiệm của con người đều mang tỉnh xã hội vả liên quan đến sự thực hành và giao tiếp, Ông cho rằng kinh nghiệm sống của HS không liên quan đến việc tiếp thu kiến thức, kiến thức là những gì HS học được từ kinh nghiệm của họ. Ngoải các môn cơ bản là đọc, viết và toán học, Dewey còn ủng hộ việc dạy khoa học.
Cũng như các môn học thuật khác, thông tin khoa học nên được trỉnh bay đưới dạng các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hằng ngảy, Việc sử dụng, những kinh nghiệm, trải nghiệm cuộc sống hiện tại để dạy khoa học sẽ cho phép HS hiểu biết rộng hơn về thể giới. Triết lí giáo dục vẻ học tập trải nghiệm là trường học không nên áp đặt, HS không nên học thụ động mà nên được khuyến khích ie tie va trải nghiệm. Một môi trườnghọc tập có tính mở, gắn kết và có nhiều trả ích với trẻ, giúp HS tìm thấy hứng thú trong học tập, tìm ra niềm đam mê vả phát huy NL nội sinh để học tập suốt đời. Zadek Kurt Lewin (1890 ~ 1947), được công nhận là "cha đẻ của các lí thuyết thay đổi xã hội", đã đặt nễn móng cho nghiên cứu liên quan đến phương pháp dạy học trải nghiệm.
T-nhóm và phương pháp phỏng thí nghiệm. Ông nhắn mạnh vai trò quan trọng của kinh nghiệm chủ quan cá nhân trongg phương pháp day hoc trai nghiệm. Qua nghiên cứu, L a đội ân vả nhiệm vụ học tập có thể phát sinh khi người học thực hành trải nghiệm, bằng cách giải quyết được sự đổi đầu này, kết quả học tập có thể đạt được hiệu quả tối đa, Ông đã để xuất một mô hình dạy học dựa trên trải nghiệm gồm bồn giai đoạn chính. Reflect = Plan Suy nghĩ về Lập kế hoạch tỉnh huống.
giải quyết học tip tỉnh huống Observez Act Quan sit ede “Tiến hành kết quả kế hoạch đạt được học tập. Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kurt Lewin (Kolb,1984) Vào năm 1960, Jean Piaget (1896 - 1980) đã tiến hảnh một nghiên cứu về sự phát triển nhận thức của trẻ em. Ông cho rằng, nhận thức không phải là việc khám phá một thể giới độc lập tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể mã là quá trình tự khám phá thể giới nội tâm của bản thân chủ thể, Theo quan điểm của ông, kiến thức luôn là sản phẩm của hoạt động kiến tạo, không thê thâm nhập vào người học một cách thụ động, ma chi được học tích cực, HS phải tương tác trực tiếp với môi trường, thực nghiệm. tạo ra hoạt động và kiểm tra kiến thức, Jean Piaget được coi lả người tiên phong trong lí thuyết kiến tạo, với quan điểm rằng con ngưởi xây dựng kiến thức tích cực về thế giới thông qua sự tương tắc giữa ÿ tưởng vả kinh nghiệm của họ.
Ông nhắn mạnh rằng trong quá trình khám phá thể giới, con người sẽ tự tạo ra kiến thức, tự xây dựng thể giới của mình và giáo dục chỉ đóng vai trò hỗ trợ để con người có thể tự học vả tự khai sáng. Lí thuyết của Piaget đã tạo ra ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực tâm lí học phát triển và đóng gop quan trọng vào lĩnh vực giáo dục (Đăng Thành Hưng, 2012). Đề cập tới "Dạy học trải nghiệm”, không thể không nhắc đến David A. Kolb (1939), nha lí luận giáo dục người Mỹ đã có nhiễu nghiên cứu và một số ấn phẩm viết về kinh nghiệm học tập.
Ông đã dựa vào kinh nghiệm của Lewin, Piaget, Lev' Vygotsky, „ và kế thửa triệt li giáo dục của John Dewey để đưa ra một lí thuyết về học từ trải nghiệm, ông chỉ ra rằng: “Học :ử trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hỏa kinh nghiệm”. David Kolb đã thể hiện quan điểm một cách rõ rằng rằng học tập là một tiễn trinh xã hội, việc học là quả trình tạo ra trì thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có bằng việc trau dỗi trong cuốn sách Experiential Learning (Hoe qua trai nghiệm). Ông la người chính thức đưa ra lí thuyết về học tập, cung cắp mô hình học tập dựa vảo trải nghiệm để ứng dụng ở bắt cứ nơi nào con người được tập hợp với nhau, Trong công trình này, ông đã xác định đặc điểm của học tập dựa vảo trải nghiệm cũng như các giai đoạn trong học tập đều dựa vào trải nghiệm. Khái niệm học tập được hiểu như quá trình chuyên đổi kinh nghiệm của chính người học để tạo ra kiến thức.
Trong suốt quả trình đó, người học không phải chỉ tiếp thu kiến thức của GV truyền đạt mà còn tạo ra kiến thức bảng cách kiểm nghiệm những kinh nghiệm sẵn có của bản thần trong môi trường học tập thực tiễn để điều chỉnh nó cho đúng (Kolb, D, A. Kolb đã giới thiệu một mô hình học tập dựa trên trải nghiệm, bao gồm bốn giai đoạn. Trong môi trường học tập cụ thẻ, khi đã có kinh nghiệm cụ thê sẵn có, người học bắt đầu bảng cách quan sắt, suy nghĩ và đưa ra phản hỗi về tỉnh huồng học tập trong môi trường đó. Từ đó, họ trích xuất khái niệm và kiến thức trừu tượng, sau đó vận dụng và thử nghiệm chúng để giải quyết những tỉnh huỗng mới trong học tập hoặc cuộc sông.
Kolb cũng nhắn mạnh rằng kiến thức được hình thành liên tục thông qua kinh nghiệm. cá nhân và môi trường. Đẻ thu thập kiến thức hiệu quả, HS cẩn đáp ứng bồn yếu tố: sự sẵn sảng vả tích cực tham gia vảo tỉnh huỗng, khả năng tư duy từ kinh nghiệm. kĩ năng phân tích để khái niệm hỏa kinh nghiệm và có khả năng giải quyết vấn đề để áp dụng ý tưởng mi từ kinh nghiệm.
Theo Kolb, trải nghiệm lâm cho việc học trở nên hiệu quả, nhưng sự trải nghiệm đó cần có sự định hưởng và hướng dẫn, không phải là trải nghiệm tự do. Nếu mục tiêu của day học chủ yêu là xây dựng vả phát triển hệ thống trí thức và hành động khoa học cho từng cá nhân, thì mục tiểu của hoạt xây dựng và pl át triển những PC, tư tướng, ý chí, tình cảm, sự đam mê, giá trị, kĩ năng. sống và những kiển thức chung khác cần thiết trong xã in đại. Theo Kolb, dé phat triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vảo nhận thức của người học; tuy nhiên, để phát triển phát.