CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về thi pháp và thi pháp học 1. Khái niệm thi pháp và thi pháp học Trải qua mấy nghìn năm có rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về thi pháp học. Như nhiều người đã nhận xét, thi pháp học truyền thống từ Arixtot ở phương Tây hay Lưu Hiệp ở phương Đông trở đi đều có chung một đặc điểm như sau: Thi pháp học là bộ môn khoa học xuất hiện như là một cẩm nang sắp xếp những lời dạy và phép tắc đối với nghề sáng tạo nghệ thuật [16, 11] Sau Arixtot, các công trình thi pháp học của Horaxo, Longinus, Boalo, Letxinh vẫn đi theo quỹ đạo đó.
Theo Todorop trong công trình Thi pháp học (1975) định nghĩa thi pháp là những quy tắc chung mà người ta sử dụng để sáng tác ra tác phẩm văn học cụ thể. Khrapchenco cho rằng Thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá nghệ thuật bằng hình tượng [14, 18]. Trần Đình Sử đã đưa ra định nghĩa về thi pháp học như sau: Thi pháp học là bộ môn nghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi nguyên tắc, phương tiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động, phát triển lịch sử của chúng [17, 8]. Theo từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thử pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.
Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự cấu thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật [5, 304]. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thi pháp và thi pháp học. Có thể hiểu thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp không 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong, vốn có của sáng tạo nghệ thuật, hình thành cùng với sáng tạo nghệ thuật.
Nó là mĩ học nội tại của sáng tác nghệ thuật gắn liền với sự sáng tạo và một trình độ văn hóa nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả, và bao trùm là cả nền văn học. Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học 1.
Thi pháp nhân vật Nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Thi pháp học xem xét nhân vật ở ba khía cạnh: tính cách nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật tả nhân vật. - Nhân vật và sự miêu tả nhân vật: con người vốn là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học trong các phương thức trữ tình, tự sự và kịch dù trực tiếp hay gián tiếp. Nhân vật được sáng tạo, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống.
Ca ngợi nhân vật là ca ngợi cuộc đời, phê phán nhân vật là phê phán đời. Xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời. Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu về cuộc đời và con người, tìm hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả đối với con người. Trong thơ trữ tình, có nhân vật trữ tình.
Con người tự bộc lộ nỗi niềm trước cuộc sống. Trong kịch, con người tự bộc lộ qua hành động ngôn ngữ của mình. Trong tác phẩm tự sự (truyện, kí) nhân vật là con người được kể, tả ra bằng lời của nhà văn. Nói chung nhân vật được miêu tả bằng các phương tiện văn học, tức bằng ngôn ngữ.
Miêu tả bao gồm tả cảnh ngụ tình, diễn tả cảm xúc, tường thuật, kể sự việc…gọi chung là hình thức của văn học. Miêu tả trong văn học khác với miêu tả trong các khoa học khác thường chỉ cần sự chính xác, khách quan. Ở trong văn học miêu tả nhằm hai mục 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đích: gợi ra hiện tượng cuộc sống và gợi ra sự cảm thụ, bộc lộ cái nhìn của tác giả. Từ đó nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người.
- Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận thẩm mĩ khi xây dựng nhân vật. Quan niệm đó chi phối nhà văn khi miêu tả nhân vật và các bộ phận khác của tác phẩm. Đây là kiểu thi pháp cơ bản nhất của văn học nghệ thuật. Thực tế có hai quan niệm nghệ thuật về con người: một là con người như một phạm trù tư tưởng, chính trị, đạo đức xã hội; hai là con người như một phạm trù thẩm mĩ.
Quan niệm thứ hai là quan niệm chủ yếu của nhà văn. Nghiên cứu thi pháp nhân vật khác với công việc phân tích nhân vật. Phân tích nhân vật là chỉ ra các nội dung được thể hiện trong nhân vật như tính cách, ngoại hình, phẩm chất, niềm vui, nỗi buồn…Trái lại khi nghiên cứu thi pháp nhân vật, ta phải khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu tả nhân vật. Thi pháp không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật thuộc phạm trù hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại, triển khai thế giới nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật là trường nhìn được mở ra từ một điểm nhìn. Mỗi tác phẩm có một không gian do tác giả lựa chọn và miêu tả. Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ giàu ý nghĩa cảm xúc. Người ta đã mượn ý niệm về không gian để miêu tả con người.
Đó là không gian nghệ thuật chung của mọi người. Không gian nghệ thuật gồm có: không gian sự kiện, không gian bối cảnh, không gian tâm lý, không gian kể chuyện. Thi pháp thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật. Thế giới tồn tại và xác định trong không gian, thời gian.
Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật không tách rời nhau trong một tác phẩm. Nhà văn có thể chú ý cả hai hoặc một trong hai. Thời gian nghệ thuật luôn mang quan niệm, cảm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xúc và ý nghĩa nhân sinh mang tính chủ quan. Vậy thời gian nghệ thuật là hình tượng được hư cấu trong tác phẩm nghệ thuật.
Thi pháp chi tiết nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật được thêu dệt nên từ nhiều chi tiết lớn nhỏ khác nhau. Những đối tượng miêu tả như nhân vật, cảnh vật, môi trường… tạo nên bằng hình dáng, đường nét, âm thanh, thuộc tính chọn lọc mà tác giả cho là cần thiết, quan trọng nhất, loại bỏ những cái rườm rà không cần thiết. Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết lại nó biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm. Chi tiết chính là điểm nhìn, thể hiện quan niệm nghệ thuật và tâm hồn tác giả đối với đối tượng đó.
Thi pháp học hiện đại khám phá tính quan niệm qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật của thế giới nghệ thuật. Quan sát nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại, ta thấy nó có một lớp ý nghĩa nào đó, bởi tác giả quan tâm và rung cảm với nó. Các chi tiết nghệ thuật bao gồm các loại màu sắc, âm thanh, đồ vật, đường nét, chất liệu…tạo thành các thế giới nghệ thuật khác nhau về chất. Chi tiết nghệ thuật biểu hiện phẩm chất thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật và cũng biểu hiện niềm rung cảm của tác giả.
Thi pháp cốt truyện Cốt truyện là yếu tố cơ bản của tác phẩm tự sự. Theo định nghĩa truyền thống, cốt truyện là tất cả hành động, biến cố phát triển trong truyện được kể lại. Truyện nào cũng có ít nhất một biến cố xảy ra nhưng không phải cứ có biến cố là có cốt truyện. Chỉ thành truyện khi có ý nghĩa nào đó.
Nhiệm vụ của thi pháp cốt truyện không phải đi trình bày các thành phần của cốt truyện mà là ý nghĩa của lối xây dựng cốt truyện ấy, hoặc quan niệm của tác giả chi phối cốt truyện đó. Thi pháp kết cấu Kết cấu là toàn bộ tổ chức của tác phẩm. Kết cấu tác phẩm thực chất là tác giả mở lối cho người đọc đi vào dòng sự kiện, dòng đời. Bố trí điểm nhìn 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho bạn đọc sao cho dễ thấy được chiều rộng và chiều sâu của câu chuyện nhằm thấy được ý nghĩa nhân sinh cần thiết cho con người.
Nói chung, nghệ thuật kết cấu tác phẩm văn học có mấy phương tiện sau: Tổ chức hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện các chi tiết: Sắp xếp tương quan nhân vật chính phụ, chính diện phản diện. Lựa chọn và sắp xếp tình tiết, chi tiết, hoàn cảnh, đồ vật sao cho ý nghĩa hình tượng nổi lên. Tổ chức hệ thống điểm nhìn và tổ chức văn bản: tổ chức cái nhìn và hệ thống điểm nhìn. Điểm nhìn nghĩa là câu chuyện diễn ra dưới con mắt của ai.
Hệ thống điểm nhìn đặt trong không gian, thời gian (nhìn từ quá khứ hay hiện tại, từ tương lai giả định nhìn về hiện tại hoặc quá khứ, nhìn từ xa hay gần…), nhìn một cách chủ quan (từ trạng thái tâm lí) hay khách quan (ghi chép, trần thuật). Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và còn phụ thuộc vào thể loại. Thi pháp lời văn nghệ thuật Lời văn nghệ thuật có tính hình tượng, mỗi lời đều là lời sáng tạo của nhà văn nhằm thực hiện ý muốn của mình. Lời văn nghệ thuật có tính tổ chức cao, được lự chọn theo ý thích, thói quen và khả năng của nhà văn.
Nhà văn có một lời văn riêng khác với những gì để kế thừa – đó là thi pháp tác giả. Nghĩa là nhà văn đã tạo ra một hệ thống lời văn độc đáo. Hình tượng tác giả Tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngoài việc cảm nhận nội dung khách quan chúng ta còn giao tiếp với tác giả, đồng cảm với tác giả. Hình tượng tác giả đã đứng ra nói chuyện và giao tiếp với độc giả, vậy chúng ta không nên đồng nhất hai tác giả, tác giả tiểu sử và tác tác giả nghệ sĩ.
Hình tượng tác giả có chân dung hành động, ngôn ngữ chứa đựng trong tác phẩm. Đặc biệt có khi tác giả tự miêu tả mình. Nhìn chung hình tượng tác giả thể hiện trên ba mặt: Cái nhìn; giọng điệu; lập trường lựa chọn, phân tích, đánh giá.