chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu lịch sử nghiên cứu đề tài trên thế giới và ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi thu thập được một số thông tin, có nhiều dẫn chứng làm tài liệu nghiên cứu kĩ hơn, có khoa học và mang tính xác thực về đề tài của chúng tôi. Qua việc tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi cũng chỉ ra những ưu điểm, thành tựu mà các tác giả đã xây dựng, đóng góp. Bên cạnh đó, trên quan điểm chủ quan, chúng tôi cũng chỉ ra một số hạn chế mà mỗi đề tài cần đóng góp.
Do đó, chúng tôi có cơ sở, dẫn chứng để thực hiện tốt các chương 2, 3, 4 và chương 5. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số khó khăn về tâm lí nhận thức của học sinh tiểu học (giai đoạn lớp 1) Giai đoạn lớp 1 là giai đoạn đầy chông gai, thử thách của con người. Tác giả Maurice Debesse [5, tr 133] đã coi lớp 1 như là “một trang sử mới của cuộc đời”.
Còn tác giả Nguyễn Thị Nhất [11, tr 14] thì coi đây là “cửa ải phân chia hai cuộc sống khác nhau”. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì gọi những khó khăn của HS lớp 1 là những “nỗi khổ của con em chúng ta” [10]. *Những khó khăn đó được biểu hiện qua hai đặc điểm là: đặc điểm nhận thức và đặc điểm nhân cách. Đặc điểm nhận thức bao gồm các đặc điểm về tri giác, tư duy, chú ý, trí nhớ.
Đặc điểm nhân cách bao gồm các đặc điểm về nhận thức, tình cảm, ý chí. - Tri giác của học sinh lớp 1 mang tính tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động. Mặc dù trẻ em đến trường đã có quá trình tri giác khá phát triển, song tri giác trong hoạt động học tập chỉ diễn ra ở mức nhận biết và gọi tên hình dạng, màu sắc.Tri giác của HS lớp 1 gắn với hành động và hoạt động thực tiễn của trẻ. Những gì trẻ được sờ mó, cầm nắm trực tiếp thì sẽ tri giác tốt hơn.Trẻ tri giác về thời gian, không gian còn hạn chế.
Trẻ lớp 1 có khuynh hướng kéo dài thời gian ngắn và rút ngắn thời gian dài. Những thời gian dài như ngày xưa, thế kỷ,… trẻ không tri giác được.Tri giác của trẻ em còn mang tính xúc cảm, những đặc điểm, dấu hiệu của sự vật nào trực tiếp gây cho các em những xúc cảm thì các em sẽ tri giác tốt hơn. Những gì trẻ thích, những gì mới lạ, sống động thì tri giác tốt hơn những gì mà các em không thích, những gì cũ kỹ quen thuộc, tĩnh lặng.Ở học sinh lớp 1 đã bắt đầu hình thành một dạng hoạt động phức tạp hơn so với cảm giác và sự phân chia những đặc tính riêng biệt của đồ vật – hoạt động quan sát. Nhờ có hoạt động này mà tri giác của trẻ trở nên có mục đích.
- Tư duy của trẻ mới đến trường thường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào việc phân tích những đặc điểm trực quan của đối tượng. Điều này được thể hiện ở chỗ: + Kĩ năng phân biệt và chỉ ra các thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng không dễ thực hiện được đối với trẻ. + Trẻ gặp phải một số khó khăn nhất định khi xác định và hiểu mối quan hệ nhân quả. Từ nguyên nhân trẻ có thể suy ra được kết quả song từ kết quả trẻ khó hoặc không suy ra được nguyên nhân.
+ Khi phân loại và phân hạng các sự vật, hiện tượng, học sinh lớp 1 thường dựa vào các dấu hiệu bên ngoài như màu sắc, hình dáng, kích thước… mà chưa biết dựa vào các dấu hiệu bên trong. + Trong phán đoán và suy luận, trẻ thường chỉ dựa vào những dấu hiệu duy nhất nên phán đoán luôn mang tính khẳng định. Trong suy luận, các em thường khó chấp nhận giả thuyết “nếu”. + Các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, trừu tượng hoá, khái quát hoá… được trẻ tiến hành chủ yếu bằng hành động thực tế, bằng việc dựa vào các dấu hiệu bên ngoài, hoạt động thực tiễn cuộc sống, hoạt động tác động từ môi trường, đối tượng khách thể khác nhau.
7 - Chú ý: Khi đến trường, trẻ chưa có sự chú ý có mục đích. Chúng chủ yếu chú ý đến những gì mà chúng trực tiếp thấy thú vị, đến cái gì nổi bật nhờ tính chất rực rỡ và khác thường (chú ý không chủ định). Chú ý của HS lớp 1 còn chưa bền vững. Trẻ chỉ có thể duy trì chú ý trong khoảng 30 đến 35 phút.
Sự tập trung chú ý của trẻ chỉ khoảng 10 phút tuy nhiên còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập. Nhịp độ học tập quá nhanh hay quá chậm, bài học quá dễ hay quá khó đều không gợi được sự chú ý của học sinh. Chú ý có chủ định của HS lớp 1 mặc dù còn yếu nhưng khả năng phát triển lại rất lớn. Sự phát triển của nó đi đôi với sự phát triển của hoạt động học tập.
- Trí nhớ: Đối với học sinh lớp 1, loại trí nhớ trực quan trừu tượng chiếm ưu thế hơn là trí nhờ từ ngữ - logic. Ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất (những sự vật hiện tượng cụ thể, trực tiếp như nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, màu sắc.) của học sinh chiếm ưu thế. Giai đoạn này, ghi nhớ máy móc phát triển tương đối và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa đề để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. - Nhận thức: Nhu cầu nhận thức của trẻ lúc này tăng cao, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh.Ở lớp 1, trẻ chủ yếu tìm hiểu các sự việc riêng lẻ, chưa phát triển nhu cầu phát hiện nguyên nhân, các mối quan hệ, liên hệ mang tính phụ thuộc giữa các hiện tượng.Nhu cầu nhận thức có vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ của HSTH đặc biệt là HS lớp 1.
Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì cũng không có tính tích cực trí tuệ. Nhu cầu nhận thức của HS được hình thành và phát triển nhờ các hoạt động đa dạng của gia đình, nhà trường và xã hội. - Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng của HS lớp 1.Ở HS lớp 1 vẫn tồn tại một loạt những đặc điểm tình cảm đặc trưng của lứa tuổi mẫu giáo như: + Khả năng kiềm chế tình cảm của học sinh còn kém, các phẩm chất của ý chí còn chưa có khả năng điều khiển, điều chỉnh cảm xúc của các em. + Tình cảm của các em dễ nảy sinh nên không bền vững.
Các em rất dễ có cảm xúc với những sự vật, hiện tượng mà mình được tiếp xúc song có cái mới hơn, lạ hơn thì các em lại có rung động với cái mới, quên hẳn cái cũ. + Tình cảm của trẻ mang tính chất cụ thể, trực tiếp. Trẻ dễ dàng này sinh cảm xúc với những sự vật hiện tượng đẹp, sống động, mới lạ. Dưới tác động của hoạt động học, đời sống tình cảm của HS lớp 1 phát triển và thay đổi theo hướng có khả năng kiềm chế tình cảm ngày càng tốt hơn và nội dung đời sống tình cảm ngày càng phong phú.
- Ý chí học sinh tiểu học nói chung và HS lớp 1 nói riêng chịu sự chi phối rất nhiều của tình cảm. Tình cảm có thể thúc đẩy, thôi thúc ý chí hoặc kìm hãm ý chí. HS lớp 1 chưa tự mình đặt ra được mục đích và lập kế hoạch trong hoạt động của mình. Vì vậy, trẻ chưa có khả năng tập trung sức lực để đạt được mục đích đã định.Petrovxki thì HS lớp 1 có 3 khó khăn thường gặp nhất [13]: - Thứ nhất: Những khó khăn có liên quan tới những đặc điểm của chế độ học tập mới mẻ.
Theo chúng tôi, vào lớp 1, trẻ phải làm quen với những chế độ học tập mới như: 8 phải thức dậy đúng giờ, không được bỏ học, phải giữ yên lặng trong giờ học, phải thực hiện đúng hạn những bài tập về nhà…nếu không làm quen được với những đòi hỏi mới này trẻ sẽ rất dễ mệt mỏi, kết quả học tập không cao, vắng mặt trong những giờ quy định trong chế độ học tập… Để khắc phục khó khăn này cho trẻ thì cha mẹ và GV cần phải giải thích rõ ràng và dễ hiểu những yêu cầu mới đối với đời sống của trẻ, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện những yêu cầu đó của trẻ và có biện pháp khích lệ và trừng phạt phù hợp. - Thứ hai: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ với thầy cô, bạn bè và sự thay đổi trong quan hệ với gia đình. Petroxki, đối với trẻ lớp 1, dù giáo viên có niềm nở và nhân từ thì họ cũng vẫn là người dạy dỗ có uy tín và nghiêm khắc, đưa ra những nguyên tắc nhất định và ngăn chặn mọi lệch lạc vi phạm nguyên tắc đó. Mặt khác, giáo viên thường xuyên đánh giá công việc của trẻ.
Chính vì vậy, đứng trước GV trẻ thường rụt rè, ngượng ngịu và đôi lúc mất bình tĩnh.Petrovxki, để giải quyết khó khăn này cho trẻ thì người GV phải lưu ý một số điểm sau: + Phải tìm hiểu được các đặc điểm cá nhân của từng HS, hiểu những phẩm chất tâm lí thực sự của chúng. + Phải giáo dục cho trẻ lòng tin vào GV, vào những hành động của họ. + Phải đối xử công bằng và yêu cầu như nhau đối với mọi học sinh. + Phải ủng hộ tình bạn của những trẻ có chung hứng thú, tình bạn của những trẻ có điều kiện bên ngoài của cuộc sống giống nhau.Petroxki cho rằng: “Trong những tháng đầu tiên của trẻ ỏ trường mục đích quan trọng của công tác giáo dục là một nhóm người xa lạ với nó, mà là một tập thể thiện ý và chu đáo của những người bạn cùng học, của những người bạn nhỏ và lớn”[13].
Đó là trong nhà trường, trong gia đình vị trí của trẻ cũng có sự thay đổi. Trẻ có những trách nhiệm và quyền hạn mới. Nhiều gia đình sẵn sàng thỏa mãn quá đầy đủ những đòi hỏi của trẻ làm cho một số trẻ bắt đầu “chiếm đoạt” vị thế của mình, đưa mình vào trung tâm. Vì đây là nguồn nảy sinh tính vị kỉ của trẻ.