phần mở đầu và kết luận gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu tƣ XDCB của vùng KTTĐ từ nguồn vốn nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn Nhà nƣớc Vùng KTTĐ Bắc bộ thời kỳ 2000 – 2008 Chƣơng 3: Định hƣớng đầu tƣ XDCB và phát triển KTXH vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, một số đề xuất và giải pháp đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 4 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TỪ NGUỒN VỐN NHÀ NƢỚC Để nghiên cứu tình hình đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn Nhà nƣớc của vùng KTTĐ Bắc Bộ cần làm rõ một số nội dung có liên quan về lý thuyết vùng, vùng KTTĐ; nội dung, khái niệm, vai trò của XDCB và nội dung nguồn vốn nhà nƣớc, cùng các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả trong hoạt động XDCB. Một số lý thuyết về vùng, vùng kinh tế trọng điểm và đầu tƣ XDCB nguồn vốn nhà nƣớc 1. Khái niệm về vùng và phân vùng 1. Khái niệm về vùng Trong ngôn từ tiếng Việt, khái niệm “vùng” đƣợc dùng một cách phổ biến nhƣng nội hàm của nó chƣa thật sự thống nhất mà tuỳ thuộc từng mục đích riêng.
Vùng – theo cách hiểu đơn giản nhất là một phạm vi lãnh thổ nhất định, có cùng một số đặc trƣng chung hình thành nên đặc trƣng của vùng nhƣ: “vùng đồi”, “vùng sâu, vùng xa”, “vùng miền núi”… Ngày nay, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách sử dụng để chỉ một cấp trung gian trong quản lý lãnh thổ giữa cấp trung ƣơng và cấp tỉnh nhằm tạo ra những hành động, những cách thực quản lý thống nhất. Lãnh thổ của vùng trong trƣờng hợp này bao gồm một số tỉnh, thông thƣờng có những điều kiện tự nhiên, KTXH hay lịch sử tƣơng đối đồng nhất. Tuy nhiên, khái niệm này chƣa thể hiện hiệu lực quản lý về mặt hành chính mà chỉ dừng lại ở mức độ quản lý lãnh thổ. Trong giai đoạn hiện nay, khi nƣớc ta đang trong quá trình CNH - HĐH vùng đƣợc xác định không chỉ là những vùng sinh tài mà về bản chất thực sự là những vùng kinh tế hay đúng hơn là vùng KTXH.
Vậy thực tế vùng là gì, những chỉ tiêu để phân vùng và có bao nhiên vùng ở Việt Nam đang là vấn đề tranh luận chƣa có một sự thống nhất ý kiến tuyệt đối. Các định nghĩa vùng rất phong phú và cách tiếp cận khái niệm vùng cũng vậy, song khái 5 niệm đƣợc nhiều ngƣời đồng ý là: Vùng là một bộ phận thuộc cấp quản lý cao của lãnh thổ quốc gia có những đặc điểm về mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội làm cho nó có thể phân biệt đƣợc với các vùng khác1. Có rất nhiều loại phân vùng khác nhau, căn cứ vào các quy luật, các quá trình hoạt động, ngƣời ta phân chia thành các vùng nhƣ: Vùng thống kê, vùng địa chính, vùng hành chính, vùng kinh tế. Các vùng đó hình thành và hoạt động dƣới tác động liên tục và cơ bản của các quy luật, các quá trình mang bản chất khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là vùng kinh tế hay vùng KTXH. Nguyên tắc phân vùng2 Phân vùng là việc phân chia không gian lãnh thổ ra những đơn vị đồng cấp, thông thƣờng là phục vụ cho một mục đích nhất định. Nó là sản phẩm của tƣ duy khoa học, dựa trên một số chỉ tiêu và phƣơng pháp mà ngƣời làm công tác phân vùng lựa chọn. Vì vậy, trên cùng một lãnh thổ, có thể có nhiều sơ đồ phân vùng khác nhau.
Tuy nhiên, việc phân vùng dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản sau: Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc về tính đồng nhất, thƣờng áp dụng để phân định các vùng - cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn hoá lịch sử. Đây là điều kiện của sự phát triển. Nguyên tắc thứ 2: Nguyên tắc về sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong đó sự gắn kết của vùng đƣợc thể hiện thông qua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất là của thành phố có sức hút và các vùng ảnh hƣởng lớn nhất, coi nhƣ cực tạo vùng – thể hiện nguyên nhân của sự phát triển. Nguyên tắc thứ 3: Nguyên tắc tính hiện hữu của các điều kiện đảm bảo sự quản lý lãnh thổ - thể hiện những điều kiện của công tác quản lý có hiệu quả.
Quá trình phân vùng gồm 2 giai đoạn: (1) giai đoạn lựa chọn các chỉ tiêu phục vụ cho mục đích phân vùng và (2) Sự áp dụng các chỉ tiêu đó cho toàn thể lãnh thổ đƣợc nghiên cứu, tức là tiến hành một sự phân hạng các đơn vị không gian. Đối với nƣớc ta hiện nay, sơ đồ 8 vùng kinh tế đã đƣợc hình thành trong thời gian dài hệ thống 8 vùng thời kỳ 1976 – 1980; hệ thống 4 vùng lớn với 7 tiểu vùng 1 Lê Bá Thảo (2001), Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý, NXB Thế giới, Hà Nội, tr 272. 6 của thời kỳ 1980 – 1985; hệ thống 8 vùng và 3 vùng kinh tế trọng điểm từ năm 1986. Tuy nhiên, để phù hợp với quá trình phát triển của đất nƣớc ở giai đoạn mới, trong Văn kiện Đại hội IX và X hệ thống vùng kinh tế của nƣớc ta còn 6 vùng kinh tế lớn và 3 vùng kinh tế trọng điểm.
Tính chất giới hạn địa hình truyền thống đƣợc nêu trƣớc đó đã bị vƣợt qua nhƣ quyết định bổ sung Bình Định. Yếu tố địa hình và khí hậu với các chỉ tiêu thƣờng đƣợc sử dụng trong hầu hết các sơ đồ phân vùng đã có từ trƣơng (từ phân vùng tự nhiên đến phân vùng kinh tế) trở thành thứ yếu, yếu tố KTXH đƣợc đƣa lên hàng đầu. Vùng kinh tế - xã hội và vùng kinh tế trọng điểm. Vùng kinh tế - xã hội Lực lƣợng sản xuất xã hội phát triển đã thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội đƣợc biểu hiện dƣới hai hình thức cơ bản: Phân công lao động theo ngành và phân công lao động xã hội theo lãnh thổ. Sự phát triển của phân công lao động theo lãnh thổ dẫn đến sự hình thành các không gian kinh tế đặc thù – các vùng kinh tế. Là sản phẩm của quá trình phát triển phân công lao động theo lãnh thổ, vùng kinh tế đƣợc hình thành và phát triển có tính quy luật. Con ngƣời có thể và cần phải nhận thức những quy luật vận động của nó để trên cơ sở đó tiến hành cải tạo và xây dựng vùng kinh tế phát triển một cách hƣớng đích.
Có nhiều định nghĩa khác nhau đề cập đến vùng kinh tế, nhƣng trong luận văn tác giả đề cập đến 2 định nghĩa mà đƣợc nhiều ngƣời sử dụng: Có thể định nghĩa vùng kinh tế hay vùng KTXH là một bộ phận kinh tế lãnh thổ đặc thù của nền kinh tế quốc dân có chuyên môn hoá sản xuất kết hợp chặt chẽ với sự phát triển tổng hợp3. Theo Viện chiến lƣợc phát triển: Vùng KTXH là một bộ phận lớn lãnh thổ quốc gia có các hoạt động KTXH tiêu biểu, thực hiện phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nƣớc. Đây là loại vùng có quy mô, diện tích, dân số ở cấp lớn nhất, 3 Đại học kinh tế quốc dân (1998), Giáo trình địa lý kinh tế Việt Nam, tr 117. 7 phục vụ việc hoạch định các chiến lƣợc, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng nhƣ để quản lý các quá trình phát triển KTXH trên mỗi vùng của đất nƣớc.
Vùng kinh tế trọng điểm - Cơ sở hình thành Vùng KTTĐ Lịch sử hình thành và phát triển lâu dài về tự nhiên và kinh tế xã hội. Trong một lãnh thổ nhất định có sự phân hoá về đa dạng về tài nguyên và yếu tố nhân văn. Quy luật phát triển không đồng đều giữa các vùng khác nhau của đất nƣớc nƣớc tạo ra sự đa dạng về nguồn lực, bản sắc dân tộc và tính nhân văn. Sự phát triển không đồng đều về tốc độ, trình độ đặt ra vấn đề trong thực hiện các chính sách phát triển vùng không giống nhau về giải pháp và các bƣớc đi cụ thể.
Phát triển nhanh, phát triển nhảy vọt theo một hay một số vùng, xét về các điều kiện và khả năng thì có thể ít khó khăn hơn việc phát triển nhanh, nhảy vọt cả một quốc gia, nhất là các quốc gia lớn, có sự phân dị rất nhiều về điều kiện tự nhiên, lịch sử KTXH thì càng khó khăn hơn. Trong một quốc gia dù đang ở giai đoạn kém phát triển, vẫn có những khu vực lãnh thổ phát triển thuận lợi hơn, có nhiều tiềm năng thế mạnh hơn để tăng trƣởng nhanh hơn và nếu lãnh thổ này đƣợc chú ý tập trung nguồn lực, cơ chế chính sách thì có thể bứt phá. Do đó việc phát triển đồng đều giữa các vùng trong cùng một khoảng thời gian là điều không thể thực hiện đối với bất cứ một quốc gia nào. Khi muốn có sự phát triển nhanh, tạo ra những ngành, khu vực kinh tế có trình độ hiện đại thì trong quá trình phát triển của mình, các nƣớc cần phải “vƣợt trƣớc” ở một số vùng lãnh thổ nhất định.
Để khai thác thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng, xác định các vùng “động lực”, vùng “cực” là rất cần thiết và đúng đắn cho sự phát triển của mỗi quốc qua. Kinh nghiệm phát triển các vùng động lực của các nƣớc cho thấy để tập trung phát triển các vùng động lực và chính sách giảm chênh lệch giữa các vùng ở một số nƣớc Đông Nam Á nhƣ Thái lan, Philippine và Malayxia…các nƣớc đều tập trung nguồn lực bứt phá đi trƣớc những lãnh thổ có khả năng tăng trƣởng nhanh, sau đó từng bƣớc chú ý đến giảm chênh lệch với vùng nghèo hay làm “bật dậy” khu 4 Viện Chiến lƣợc phát triển (2004), Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội, tr 98.