Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và vai trò của quản lý của nhà nước. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam Chương 3: Giải pháp quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam Luan van 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƢỚC 1. Cơ sở lý luận về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài 1. Các khái niệm Dưới góc độ của mỗi quốc gia, có hai luồng vốn đầu tư cho nền kinh tế, đó là vốn đầu tư trong nước (huy động từ các thành phần kinh tế trong nước) và vốn ĐTNN (huy động từ nước ngoài).
Và tương tự với đó, để sử dụng vốn đầu tư cũng có thể có hai hoạt động là hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động ĐTRNN. Hoạt động đầu tư có thể diễn ra ngay tại lãnh thổ nước mà chủ đầu tư đăng kí quốc tịch gọi là đầu tư trong nước hoặc có thể diễn ra ở lãnh thổ các nước khác với nước chủ đầu tư đăng kí quốc tịch gọi là ĐTRNN. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài về bản chất cũng là hoạt động đầu tư quốc tế. ĐTRNN bao gồm ĐTTTRNN và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng gọi là đầu tư trực tiếp đối ngoại, là việc đầu tư của người có tư cách pháp nhân hoặc tổ chức kinh tế của một nước độc lập hoặc cùng xuất khẩu tư bản xây dựng xí nghiệp mới ở nước khác tăng thêm tư bản mở rộng xí nghiệp cũ và có quyền khống chế có hiệu lực.
Cũng có một số nước vì nguyên nhân địa lý mà gọi là đầu tư trực tiếp hải ngoại. Nếu xét về phạm vi quốc tế, việc đầu tư trực tiếp mang tính xuyên quốc gia này chính là hoạt động đầu tư trực tiếp quốc tế (Nguyễn Hữu Quỳnh, 1998). Đầu tư quốc tế và ĐTNN là hai tên gọi khác nhau của cùng một loại hoạt động. Sở dĩ có hai cách gọi do góc độ nhìn nhận, xem xét vấn đề khác nhau.
“ĐTNN” là thuật ngữ dùng khi đứng ở góc độ của một quốc gia để xem xét hoạt động đầu tư từ quốc gia này sang các quốc gia khác hoặc ngược lại. Còn “đầu tư quốc tế” được sử dụng khi xét hoạt động đầu tư trên phương diện tổng thể nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, cũng không cần thiết phải phân biệt giữa ĐTNN và đầu tư quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng như hiện nay. Luan van 8 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư nói chung khi xuất hiện hoạt động đầu tư giữa các nước và thường ngầm hiểu luồng vốn này là khối lượng vốn đầu tư của các nước đầu tư vào một quốc gia nào đó.
Ngược lại, lượng vốn đầu tư của các cá nhân, tổ chức của một quốc gia đầu tư ra các nước khác gọi là hoạt động ĐTTTRNN (OFDI) Theo các nhà kinh tế học: Dòng đầu tư quốc tế vận động dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố vốn, lao động, thị trường giữa các quốc gia, đặc biệt giữa các nước phát triển và đang phát triển. Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý….từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu cho các bên tham gia. Tại hội thảo của Hiệp hội Luật quốc tế ở Phần Lan năm 1996, ĐTNN được định nghĩa như sau: “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ”. Định nghĩa này chưa nêu được mục đích của đầu tư nước ngoài, mới chỉ đề cập đến một vế của hoạt động đầu tư đó là sự “di chuyển vốn” và tiến hành “sản xuất kinh doanh”.
Luật ĐTNN của Cộng hòa Liên bang Nga (4/7/1991) quy định: “ĐTNN là tất cả các hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần mà người đầu tư đầu tư ở nước ngoài vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận” (Voer, 2013). Định nghĩa này tương đối đầy đủ, chỉ rõ bản chất của đầu tư là thu lợi nhuận, tuy nhiên vẫn còn hạn chế. Điều đó có thể thấy ngay sau khi đọc luật của Ucraina: “ĐTNN là tất cả các hình thức giá trị do các nhà ĐTNN đầu tư vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã hội”. Luật Đầu tư của Việt Nam ban hành năm 2014 quy định: Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
Vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư, tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (Luật Đầu tư, 2014). Luan van 9 Theo Nghị định số 83/2015/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam: “ĐTRNN là việc nhà đầu tư chuyển vốn hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó”. Theo Nghị định này, có hai dấu hiệu cơ bản nhất của ĐTTTRNN là: Có sự di chuyển vốn trên phạm vi quốc tế; CĐT trực tiếp tham gia vào quá trình sử dụng vốn và quản lý đối tượng ĐT. Như vậy, ĐTTTRNN là hoạt động do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành nhằm thu được lợi nhuận trong kinh doanh.
Từ những quan niệm trên có thể đưa ra khái niệm về ĐTTTRNN của các DNVN như sau: ĐTTTRNN là việc các doanh nghiệp, doanh nhân đưa vốn bằng tiền, tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động đầu tư đó nhằm thu được lợi nhuận. Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Có thể nói FDI được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu là: Đầu tư mới (GI), Liên minh và sáp nhập (M&A). Đầu tư mới là hình thức các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua một doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống và thường gặp ở các nước đang phát triển.
M&A là hình thức mà chủ đầu tư tiến hành thông qua mua lại, liên minh và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển. So với doanh nghiệp ở các nước phát triển thì doanh nghiệp ở các nước đang phát triển khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có các đặc điểm khác sau: - Về quy mô vốn: Trong khi doanh nghiệp ở các nước phát triển khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thường là các dự án với quy mô khá lớn thì đa số hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ. Các doanh Luan van 10 nghiệp Việt Nam hiện nay khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì các dự án có quy mô lớn rất khiêm tốn, dự án lớn nhất mà Việt Nam tham gia chỉ có quy mô khoảng trên 200 triệu USD.
Trình độ khoa học công nghệ của các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển là khá thấp so với doanh nghiệp ở các nước phát triển nên, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào những ngành, những lĩnh vực không yêu cầu trình độ công nghệ quá cao, sử dụng nhiều lao động. - Các tập đoàn, các doanh nghiệp ở các nước phát triển chủ yếu đầu tư ra nước ngoài qua hình thức 100% vốn nước ngoài, còn các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển thì do trình độ lao động kém, khả năng quản lý còn nhiều yếu kém, khả năng tài chính còn hạn chế. nên chủ yếu đầu tư qua hình thức liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh. rất ít dự án 100% vốn nước ngoài.
Ở các nước đang phát triển hiện nay, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thường được thực hiện thông qua kênh GI, với những hình thức thường được áp dụng phổ biến là: 1) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đây là hình thức mà hai hay nhiều bên hợp tác kinh doanh với nhau dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hình thức này có đặc điểm: - Không thành lập pháp nhân mới. - Hoạt động dựa trên văn bản ký kết giữa các bên.
Khi hết thời hạn hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý. 2) Hình thức doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do một hoặc nhiều chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Đặc điểm: - Thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
- Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên Luan van 11 3) Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đây là hình thức doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn để thành lập. Đặc điểm: - Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật nước sở tại. Doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
- Doanh nghiệp là một pháp nhân của nước nhận đầu tư. 4) Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT). Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian. Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó cho nước sở tại.