chương 1 Đấu giá tài sản là một phương thức bán tài sản công khai để thu được giá trị bán tài sản cao nhất cho người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Tài sản đưa ra đấu giá có thể thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người có tài sản tự nguyện đưa ra đấu giá hoặc tài sản bị buộc đưa ra đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 17 Ở nước ta, trong quá trình thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành thì cơ quan THADS có quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án. Trên cơ sở kết quả kê biên, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản để đấu giá tài sản đã kê biên để thi hành án.
Đấu giá tài sản để THADS là bán công khai tài sản của người phải thi hành án đã bị kê biên theo trình tự, thủ tục pháp luật về đấu giá tài sản. Đấu giá tài sản để THADS có một số đặc điểm cơ bản là: tài sản đưa ra đấu giá để THADS là tài sản đã bị kê biên theo quyết định cưỡng chế của Chấp hành viên cơ quan THADS; việc đấu giá tài sản để THADS được thực hiện theo phương thức trả giá lên và quá trình đấu giá có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sự phối hợp của nhiều chủ thể. Đấu giá tài sản để THADS có vai trò quan trọng trong đảm bảo hiệu quả thi hành các bản án, pháp luật có hiệu lực pháp luật; góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong xã hội và hiệu quả công tác xét xử và THADS. 18 Chương 2 THỰC TIỄN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.
Thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Nghiên cứu pháp luật ở nước ta có thể thấy rằng đấu giá tài sản được hình thành, phát triển từ bán đấu giá tài sản trong hoạt động THADS. Dấu mốc lập pháp quan trọng đầu tiên về đấu giá tài sản để THADS là Pháp lệnh THADS năm 1989, theo đó tại Điều 28 của Pháp lệnh quy định thẩm quyền của Chấp hành viên được bán đấu giá tài sản kê biên để thi hành án. Tiếp đó, cùng với quá trình hoàn thiện pháp luật, nội dung pháp luật điều chỉnh về đấu giá tài sản để THADS cũng ngày càng hoàn thiện hơn qua các văn bản quy phạm pháp luật như: Pháp lệnh THADS năm 1993; Pháp lệnh THADS năm 2004; Nghị định số 86/1996/CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế bán đấu giá tài sản; Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản; Luật THADS năm 2008; Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản; Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Qua nghiên cứu khái quát các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, có thể thấy rằng nội dung pháp luật điều chỉnh về đấu giá tài sản để thi hành án ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ hơn, nhất là vấn đề tài sản kê biên được đưa ra đấu giá; thẩm quyền bán đấu giá tài sản kê biên; quản lý nhà nước về đấu giá tài sản để thi hành án; việc thành lập các tổ chức đấu giá tài sản, đặc biệt là trình tự, thủ tục đấu giá tài sản ngày càng tạo cơ sở cho việc đấu giá tài sản công khai, minh bạch hơn.
Trên cơ sở Luật THADS, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản hướng 19 dẫn hiện hành và phạm vi nghiên cứu của luận văn liên quan đến đấu giá tài sản để THADS, luận văn tập trung phân tích một số nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh về đấu giá tài sản để THADS như sau: 2.Thẩm quyền bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Về nguyên tắc, tài sản của người phải thi hành án bị kê biên phải được bán để thi hành án. Việc bán tài sản kê biên có thể được thực hiện thông qua bán đấu giá và bán không qua thủ tục đấu giá. Theo đó pháp luật phân định rõ thẩm quyền đấu giá tài sản giữa Chấp hành viên và tổ chức đấu giá tài sản trên cơ sở loại tài sản (động sản và bất động sản) và giá trị của động sản (Giá trị động sản là giá trị từng động sản; đối với vật cùng loại, vật đồng bộ là tổng giá trị các động sản đó trong một lần tổ chức bán để thi hành một việc thi hành án) [2, Điều 27]. Cụ thể là: Về thẩm quyền của Chấp hành viên: Theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên được bán tài sản kê biên không qua thủ tục đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản được thực hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên. Đối với động sản có giá trị từ 2.000 đồng và trong trường hợp tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên chưa có tổ chức đấu giá tài sản hoặc có nhưng tổ chức đấu giá tài sản từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản thì Chấp hành viên có thẩm quyền bán tài sản đã kê biên thông qua thủ tục đấu giá tài sản. Về thẩm quyền của tổ chức đấu giá tài sản (gồm Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp và Doanh nghiệp đấu giá tài sản): Theo quy định của Luật Đấu giá tài sản thì tổ chức đấu giá tài sản có quyền bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000 đồng và bất động sản. 20 Để có cơ sở thực hiện việc đấu giá tài sản đảm bảo khách quan, minh bạch, pháp luật quy định cụ thể về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, theo đó trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá, đương sự (người được thi hành án và người phải thi hành án) có quyền quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá.
Trên cơ sở lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản do đương sự thỏa thuận, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản đó để thực hiện việc bán tài sản. Trường hợp đương sự không thỏa thuận được tổ chức đấu giá tài sản thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản. Để đảm bảo ràng buộc trách nhiệm bán tài sản kê biên, pháp luật cũng quy định thời hạn bán đấu giá tài sản, theo đó việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá (Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá). Đồng thời, pháp luật cũng quy định trường hợp bán tài sản thuộc sở hữu chung, theo đó trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung mà có nhiều chủ sở hữu chung đề nghị mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định thì Chấp hành viên thông báo cho các chủ sở hữu chung đó thỏa thuận người được quyền mua.
Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản bán đấu giá [2, Điều 27]. Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Để đảm bảo tính công khai, minh bạch trong đấu giá tài sản để THADS, pháp luật quy định trình tự, thủ tục đấu giá tài sản qua các bước cơ bản như sau: Bước 1: Ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản 21 Để có thể đưa tài sản ra bán đấu giá để thi hành án thì Chấp hành viên phải ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá tài sản. Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản được lập thành văn bản; nội dung, ký kết, thực hiện hợp đồng tuân theo quy định của pháp luật về dân sự và Luật Đấu giá tài sản. Theo quy định của Luật THADS thì Chấp hành viên phải ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản là cơ sở để đưa tài sản ra đấu giá trong thời hạn pháp luật quy định (Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng). Bước 2: Niêm yết và thông báo công khai việc đấu giá tài sản Niêm yết việc đấu giá tài sản là một thủ tục quan trọng trong bán đấu giá tài sản, thể hiện tính trung thực, công khai, minh bạch, khách quan của hoạt động đấu giá tài sản và đảm bảo thông tin được công khai rộng rãi tới các đối tượng có nhu cầu mua tài sản đấu giá. Về việc niêm yết đấu giá tài sản, Luật Đấu giá tài sản quy định việc niêm yết phải được thực hiện ít nhất 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá đối với tài sản là bất động sản và 7 ngày làm việc đối trước ngày mở cuộc đấu giá đối với tài sản đấu giá là động sản. Về địa điểm niêm yết, đối với động sản là trụ sở của tổ chức bán đấu giá, nơi trưng bày tài sản (nếu có) và nơi tổ chức cuộc đấu giá; đối với bất động sản, địa điểm niêm yết là trụ sở của tổ chức bán đấu giá, nơi tổ chức cuộc đấu giá và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đấu giá.