Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự giữ vai trò huyết mạch nhằm hiện thực hóa các bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi của các đương sự. Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, trong năm 2017 toàn quốc có 2.145 việc bán đấu giá thành tài sản kê biên, đạt tỷ lệ 61,9% về việc và 51,74% về tiền. Tuy nhiên, công tác này vẫn đối diện với thách thức to lớn khi ghi nhận tới 7.535 việc bán đấu giá không thành với giá trị tồn đọng lên tới hơn 10.898 tỷ đồng, trong đó có 5.225 việc phải đưa ra bán đấu giá từ 3 lần trở lên tương ứng 11.572 tỷ đồng.

Thực tiễn tại thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế trọng điểm với khối lượng án thi hành thuộc nhóm lớn nhất cả nước – hoạt động đấu giá tài sản kê biên bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tình trạng thông đồng, dìm giá, "quân xanh quân đỏ", chậm bàn giao tài sản trúng đấu giá và sự thiếu tương thích giữa các văn bản quy phạm pháp luật đã làm suy giảm hiệu lực thu hồi nợ, nhất là các khoản nợ tín dụng, ngân hàng.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Trần Thị Lương (người hướng dẫn khoa học: PGS. Trần Đình Hảo, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội năm 2018) là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng thi hành pháp luật tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội và 30 Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc trong giai đoạn 2013 – 2017. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng tỷ lệ đấu giá thành công, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tháo gỡ dứt điểm 121 vụ việc đã đấu giá thành nhưng chưa thể bàn giao tài sản trên địa bàn Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế học pháp luật kết hợp cùng lý thuyết quản lý công hiện đại nhằm phân tích cơ chế phân bổ tài sản thông qua thị trường đấu giá công khai. Các khung lý thuyết này chỉ rõ rằng hiệu quả của việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ tài sản phụ thuộc trực tiếp vào tính minh bạch của quy trình tố tụng và chi phí giao dịch trên thị trường.

Khung phân tích tập trung vào bốn khái niệm cốt lõi:

  1. Đấu giá tài sản để thi hành án dân sự: Hình thức chuyển nhượng công khai quyền sở hữu tài sản kê biên của người phải thi hành án theo trình tự luật định nhằm thu hồi tối đa giá trị tiền thực hiện nghĩa vụ theo bản án.
  2. Tài sản kê biên: Đối tượng tài sản bị hạn chế quyền định đoạt căn cứ theo quyết định cưỡng chế của Chấp hành viên quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Phương thức trả giá lên: Cơ chế người tham gia đấu giá trả giá tăng dần từ mức giá khởi điểm do tổ chức thẩm định giá xác định, bảo đảm sự an toàn pháp lý và tránh thất thoát tài sản.
  4. Bảo vệ quyền của người mua ngay tình: Nguyên tắc hiến định và dân sự bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của người trúng đấu giá theo Điều 103 Luật Thi hành án dân sự và Điều 106 Hiến pháp năm 2013.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp và hệ thống 12 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt, bao gồm: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Nghị định số 62/2017/NĐ-CP, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 2.312 vụ việc đưa ra bán đấu giá tài sản kê biên tại Hà Nội trong giai đoạn 5 năm liên tục (2013 – 2017). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với dữ liệu thống kê hành chính, kết hợp chọn mẫu điển hình để phân tích sâu các case study tranh chấp phức tạp kéo dài như vụ việc tại nhà 194 phố Huế (quận Hai Bà Trưng) và vụ cưỡng chế đấu giá quyền sử dụng đất của Công ty Cổ phần Ngọc Bình tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp so sánh luật học và thống kê mô tả là nhằm chỉ ra sự vênh lệch giữa các quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 với Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đồng thời lượng hóa tác động thực tế của các rào cản thể chế lên tiến độ thu hồi tài sản. Timeline nghiên cứu được thực hiện chuyên sâu từ tháng 10/2017 đến tháng 5/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2013 – 2017 ghi nhận ba phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, số lượng tài sản kê biên đưa ra đấu giá tăng trưởng đột biến, tạo áp lực khổng lồ lên hệ thống tư pháp địa phương. Số vụ việc đấu giá tài sản kê biên tăng 4,1 lần, từ 199 việc năm 2013 lên tới 817 việc năm 2017. Trung bình một năm, mỗi Chấp hành viên tại Hà Nội phải giải quyết tới 189 việc thi hành án (tính trên tổng số 43.552 việc phân bổ cho 230 Chấp hành viên trong năm 2017), vượt xa mức tải công việc quy chuẩn.

Thứ hai, kết quả thu hồi tiền từ bán đấu giá chiếm tỷ trọng chi phối trong cơ cấu kết quả thi hành án dân sự. Năm 2017, thành phố có 524/817 việc bán đấu giá thành công (đạt tỷ lệ 64,1%), thu về hơn 587 tỷ đồng. Giá trị tiền từ bán đấu giá tài sản kê biên đóng góp tới 75% tổng số tiền thi hành án thu được hàng năm trên địa bàn Thủ đô. Đáng chú ý, các vụ việc thi hành án liên quan đến tín dụng – ngân hàng chỉ chiếm 7% về tổng số việc nhưng chiếm tới 60% tổng lượng tiền phải thi hành.

Thứ ba, tỷ lệ tài sản phải hạ giá nhiều lần và số lượng tài sản đấu giá thành chưa thể bàn giao ở mức báo động. Năm 2017, Hà Nội có 293 việc phải định giá lại và hạ giá bán (chiếm 35,9% tổng số việc đưa ra đấu giá), đồng thời tồn đọng 121 vụ việc đã đấu giá thành nhưng cơ quan chức năng chưa thể bàn giao tài sản cho người mua trúng đấu giá ngay tình. Toàn quốc cũng ghi nhận 5.225 vụ việc phải bán đấu giá từ 3 lần trở lên với tổng giá trị hơn 11.572 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét qua bảng thống kê kết quả thi hành án dân sự tại Hà Nội, thể hiện sự đối nghịch giữa tốc độ tăng trưởng thụ lý (từ 30.552 việc năm 2013 lên 43.552 việc năm 2017) và tỷ lệ thi hành xong về tiền chỉ đạt từ 25% đến 40%. Điều này có thể được trình bày rõ ràng qua biểu đồ cột kép so sánh giữa số vụ đưa ra đấu giá và số vụ đấu giá thành, kèm biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 60% giá trị tiền bắt nguồn từ các tranh chấp ngân hàng.

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ những khoảng trống và xung đột pháp lý sâu sắc:

  • Xung đột giữa Điều 110 Luật Thi hành án dân sự và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013: Luật Thi hành án cho phép kê biên quyền sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng đủ điều kiện cấp giấy, trong khi Luật Đất đai nghiêm cấm chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận, đẩy Chấp hành viên vào thế bế tắc.
  • Mâu thuẫn về quy trình lựa chọn tổ chức bán đấu giá: Điều 56 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định người có tài sản phải thông báo công khai việc lựa chọn tổ chức đấu giá trên cổng thông tin, trong khi Điều 101 Luật Thi hành án dân sự lại ưu tiên quyền thỏa thuận của đương sự trong hạn 05 ngày làm việc và buộc Chấp hành viên ký hợp đồng trong 10 ngày.
  • Bất cập trong bảo quản tài sản kê biên: Quy định tại Điều 58 Luật Thi hành án dân sự về việc giao bất động sản kê biên cho người phải thi hành án tiếp tục quản lý tạo cơ hội cho đương sự cản trở khách hàng xem tài sản, dẫn đến việc cơ quan chức năng phải tổ chức cưỡng chế 2 lần (cưỡng chế kê biên và cưỡng chế bàn giao).

So sánh với các nghiên cứu của Đỗ Khắc Trung (2007) và Bùi Thị Thu Hiền (2015), luận văn của tác giả Trần Thị Lương đã chứng minh cụ thể trên địa bàn Hà Nội rằng điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở kỹ thuật tổ chức phiên đấu giá mà nằm ở rủi ro pháp lý sau khi trúng đấu giá, khiến người mua có tâm lý e ngại tài sản phát mãi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khắc phục dứt điểm các vướng mắc, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật thi hành án và đấu giá tài sản: Bộ Tư pháp cần chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, sửa đổi Điều 110 Luật Thi hành án dân sự để tương thích tuyệt đối với Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; thống nhất quy trình thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá tại Điều 56 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Điều 101 Luật Thi hành án dân sự. Hoàn thành ban hành thông tư hướng dẫn kê biên, định giá và bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ, hoa lợi trong quý IV/2019.

  2. Chuẩn hóa quy trình niêm yết, hạ giá và bàn giao tài sản: Tổng cục Thi hành án dân sự ban hành quy chế siết chặt thời hạn bán đấu giá bất động sản từ 45 ngày xuống tối đa 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ. Kiên quyết thực hiện cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá trong thời hạn từ 30 đến 60 ngày theo đúng Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, đặt mục tiêu giảm số vụ việc đấu giá thành chưa giao tài sản tại Hà Nội từ 121 vụ việc năm 2017 xuống dưới 20 vụ việc vào năm 2020.

  3. Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ: Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội phối hợp cùng Học viện Tư pháp tổ chức tối thiểu 2 khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu mỗi năm cho 230 Chấp hành viên và toàn bộ đội ngũ Đấu giá viên trên địa bàn; tăng cường thanh tra nhằm triệt tiêu hiện tượng bắt tay ngầm, dìm giá hoặc che giấu thông tin tài sản đấu giá.

  4. Bổ sung cơ chế bảo đảm an sinh xã hội cho người phải thi hành án: Quốc hội và Chính phủ cần bổ sung quy định trích kinh phí từ tiền bán tài sản để hỗ trợ từ 12 đến 24 tháng tiền thuê nhà cho người phải thi hành án khi kê biên căn nhà duy nhất, bảo đảm quyền có nơi ở theo Hiến pháp năm 2013, giảm thiểu sự chống đối tiêu cực khi cưỡng chế bàn giao nhà đất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Chấp hành viên và Thư ký thi hành án tại các cơ quan thi hành án dân sự: Cung cấp cẩm nang thực hành chuẩn mực về quy trình 7 bước bán đấu giá tài sản kê biên; hướng dẫn nhận diện các rủi ro tố tụng để tránh sai phạm dẫn tới hủy kết quả bán đấu giá như bài học thực tiễn tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh và quận Hai Bà Trưng.

  2. Đấu giá viên và lãnh đạo các doanh nghiệp đấu giá tài sản: Nắm vững cơ sở xác lập hợp đồng dịch vụ, quy chế thu và xử lý tiền đặt trước từ 5% đến 20% theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016; giải quyết hiệu quả các tình huống phát sinh khi khách hàng rút giá hoặc người phải thi hành án xin chuộc lại tài sản.

  3. Chuyên viên pháp chế và xử lý nợ tại các ngân hàng thương mại: Xây dựng chiến lược tối ưu hóa thu hồi nợ xấu đối với các khoản vay có bảo đảm bằng bất động sản (chiếm 60% tổng lượng tiền thi hành án tại Hà Nội), nắm bắt các mốc thời gian giảm giá tài sản để chủ động nhận tài sản trừ vào tiền thi hành án.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật: Khai thác nguồn tài liệu thực chứng toàn diện với hệ thống số liệu chi tiết giai đoạn 2013 – 2017 tại Hà Nội, làm tiền đề lý luận cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về luật tố tụng dân sự, luật kinh tế và cải cách tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

Mức thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá tài sản thi hành án hiện nay là bao nhiêu?

Theo quy định tại Luật Đấu giá tài sản năm 2016, khoản tiền đặt trước do tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản thỏa thuận nhưng tối thiểu là 5% và tối đa là 20% giá khởi điểm của tài sản. Mức này đã được điều chỉnh tăng so với biên độ từ 1% đến 15% của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP trước đây nhằm ngăn chặn tình trạng đăng ký tham gia ảo để thông đồng dìm giá.

Mức giảm giá tối đa cho mỗi lần bán đấu giá tài sản không thành là bao nhiêu?

Khi tài sản đưa ra bán đấu giá không thành và các đương sự không thỏa thuận được mức giảm giá, Chấp hành viên có thẩm quyền ra quyết định giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó. Năm 2017, Hà Nội có 293 việc phải áp dụng cơ chế giảm giá để tiếp tục bán đấu giá.

Người phải thi hành án có quyền chuộc lại tài sản trước khi mở phiên đấu giá không?

Theo Điều 101 Luật Thi hành án dân sự, trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán toàn bộ chi phí thực tế phát sinh từ việc cưỡng chế, tổ chức bán đấu giá để nhận lại tài sản kê biên.

Tại sao các vụ việc thi hành án liên quan đến ngân hàng tại Hà Nội thường kéo dài nhiều năm?

Số liệu năm 2017 cho thấy án tín dụng – ngân hàng tại Hà Nội chiếm tới 60% về tiền nhưng chỉ chiếm 7% về việc. Nguyên nhân kéo dài do tài sản thế chấp hầu hết là bất động sản, nhà xưởng quy mô lớn, khi thị trường biến động khó tìm người mua, đồng thời người phải thi hành án thường khiếu nại, cản trở việc xem tài sản.

Sai phạm lớn nhất trong vụ việc bán đấu giá nhà 194 phố Huế (Hà Nội) là gì?

Vụ việc 194 phố Huế là ví dụ điển hình khi cơ quan thi hành án chưa xác định rõ ranh giới phần quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã tổ chức bán đấu giá, đồng thời vi phạm 02 điều kiện bắt buộc theo Điều 106 Luật Đất đai là đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng và đang có tranh chấp, bị kê biên.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chuẩn hóa quy trình 7 bước đấu giá tài sản kê biên theo tinh thần Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Luật Thi hành án dân sự.
  • Khảo sát thực chứng 2.312 vụ việc tại Hà Nội giai đoạn 2013 – 2017, chứng minh nguồn thu từ bán đấu giá tài sản đóng góp tới 75% giá trị tiền thi hành án toàn thành phố.
  • Nhận diện 11 điểm nghẽn thể chế và 7 khó khăn thực tiễn, làm rõ nguyên nhân của 121 vụ việc bán đấu giá thành nhưng chưa thể giao tài sản cho người mua ngay tình.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện quy định đất đai, siết chặt thời hạn tố tụng và đào tạo chuẩn hóa cho 230 Chấp hành viên trên địa bàn Thủ đô.
  • Đưa ra lộ trình hoàn thiện thể chế đến năm 2020 nhằm bảo vệ tối đa quyền tài sản của công dân và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ xấu cho nền kinh tế.

Quý độc giả, chuyên gia pháp lý và học viên quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn công trình nghiên cứu tại thư viện Học viện Khoa học Xã hội hoặc Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội để ứng dụng vào công tác chuyên môn và nghiên cứu học thuật.