Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA, VĂN HÓA NAM BỘ VÀ TÁC PHẨM CỦ A NGUYỄN QUANG SÁNG ̣ về văn hóa và văn hóa Nam Bô ̣ 1. Khái niêm ̣ về văn hóa 1.1 Khái niêm Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian, … Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh, …).
Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ, …). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn, …) Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống.
Theo nghĩa chuyên biệt, văn hóa được dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Còn theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống,. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử". Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.” Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo 8 và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” Theo Hồ Chí Minh, văn hóa đươ ̣c hiể u là “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trong khái niệm này, khái niê ̣m văn hóa được hiểu đơn giản nhưng đầ y đủ văn hóa là những gì phu ̣c vu ̣ cho mu ̣c đić h số ng cũng như khả năng sinh tồ n của con người. Còn theo cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor thì "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình". Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
̣ về văn hóa Nam Bô ̣ 1. Khái niêm Dựa vào điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội, văn hóa Việt Nam chia thành 6 vùng. Vùng văn hóa để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh, tự nhiên, dân cư sinh sống, … Ở đây chỉ xin đề cập tới vùng văn hóa Nam Bộ. Văn hoá Nam Bộ là văn hóa của một vùng đất nằm ở cực Nam của Tổ quốc.
Đây là một nội dung khá quan tro ̣ng vì nó liên quan mâ ̣t thiế t tới văn ho ̣c 9 Nam Bộ. Ở đây, những kiến thức về văn hoá Nam Bộ được tìm hiểu qua các ngành như: Văn hóa học, Ngữ văn, Xã hội học. Về đặc điểm tự nhiên, xã hội: Vùng Nam Bộ nằm ở lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long, khí hậu có hai mùa: Mùa khô – mùa mưa rõ rệt. Pha ̣m vi vùng văn hóa Nam Bộ bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồ ng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Riạ - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồ ng Tháp, Cầ n Thơ, Hâ ̣u Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.
Có thể chia thành ba tiể u vùng văn hóa: tiể u vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ và tiể u vùng Sài Gòn. Về điạ hình, đây là một vùng đồ ng bằ ng sông nước rất đặc trưng, có diện tích hơn 6 triệu ha và có độ phì nhiêu cao nhấ t trong tấ t cả các đồ ng bằ ng nước ta. Cư dân Nam Bộ gồm: người Việt, người Chăm, người Hoa và cư dân bản địa Khmer, Mạ, Xtiêng, Chơro, Mnông. Văn hóa Nam Bộ mang đậm dấu ấn sông nước, đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây; âm nhạc có vọng cổ, cải lương, hát tài tử; Tôn giáo, tín ngưỡng khá đa dạng và có tính phức hợp.
Mố i quan hê ̣ giữa văn hóa và văn ho ̣c Văn học có vai trò quan tro ̣ng trong việc phản ánh nền văn hóa dân tộc. Mo ̣i phương diê ̣n của văn hóa đươ ̣c phản ánh trong nhiề u tác phẩ m văn ho ̣c như phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, hoa ̣t đô ̣ng sản xuấ t, ẩ m thực, .… Theo Trầ n Hoài Anh “Tiếp xúc với tác phẩm văn học cũng chính là tiếp xúc với những giá trị văn hóa được nhà văn phản ánh trong đó, nhất là những tác phẩm văn học mà đối tượng phản ánh là những vấn đề văn hóa như tác phẩm văn học viết về phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, các truyền thuyết lịch sử, lễ hội…. Dấu ấn văn hóa ở những tác phẩm văn học thuộc thể tài này là đối tượng nghiên cứu của văn hóa học ứng dụng, khi chúng ta tìm hiểu các giá trị văn hóa nhìn từ văn học, dựa trên cơ sở lý thuyết liên ngành giữa văn học và văn hóa”. Từ nhâ ̣n đinh ̣ 10 này, ta thấ y văn hóa và văn ho ̣c có mố i quan hê ̣ gắ n bó, văn hóa là nề n tảng để văn ho ̣c phát triể n.
Văn ho ̣c phát triể n phản ánh mo ̣i phương diê ̣n của văn hóa. Như vậy, xét về một ý nghĩa nào đó, nhà văn chính là người đã tái hiện văn hóa dân tộc bằng văn học. Đến với các tác phẩm văn học cũng chính là đế n với những giá trị văn hóa được nhà văn phản ánh trong đó, nhất là những tác phẩm văn học xoay quanh các vấn đề văn hóa. Nguyễn Quang Sáng – nhà văn của vùng quê Nam Bô ̣ 1.
Vài nét về tiể u sử Nguyễn Quang Sáng Nguyễn Quang Sáng sinh ngày 12/1/1932 tại làng Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Quê hương ông cũng là một vùng đất có truyền thống cách mạng, có nhiề u phong tu ̣c tâ ̣p quán tốt đẹp, là cái nôi sinh thành của nhiều danh nhân, văn nghệ sĩ, chiế n si ̃ yêu nước. Nguyễn Quang Sáng xuất thân trong một gia đình giàu tinh thần yêu nước và truyền thống dân tô ̣c. Cha ông làm nghề thơ ̣ ba ̣c, có nhiề u mố i quan hê ̣ thân thiết với nhiều nhà cách ma ̣ng, trong đó có nhà cách ma ̣ng Châu Văn Liêm.
Nhờ đó, ông đã sớm hiểu biết những vấn đề quốc gia đại sự. Ông đã tham gia bộ đội, làm liên lạc cho Vệ quốc đoàn tỉnh Long Châu Tiền khi mới 14 tuổi. Sau đó, ông hành quân từ Long Châu Sa (Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc), băng sông Tiền, qua sông Hậu, về U Minh. Đơn vị từng trấn giữ chiến trường Bảy Núi – tức Thất Sơn, mở nhiều chiến dịch.
Vậy là, tuổi ấu thơ của nhà văn được rèn luyện trong máu lửa chiến tranh, nhờ đó đã hun đúc nên cốt cách kiên cường của một cán bộ cách mạng, mô ̣t nhà văn lớn. Năm 1948, Nguyễn Quang Sáng được cử đi học thêm về văn hoá để chuẩn bị cán bộ cho kháng chiến lâu dài. Ông đươ ̣c kết nạp Đảng, từ năm 1950 – 1952, ông được cử về làm cán bộ Phòng Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ. Ở tuổ i đôi mươi, Nguyễn Quang Sáng đã thực sự trưởng thành hơn so với các bạn đồng trang lứa.
Ông nghiên cứu lịch sử nhất là lịch sử tôn giáo của vùng đất Nam Bộ. Quê hương ông chính là một phần của lịch sử. Ông xót xa thấ y Phật giáo Hòa Hảo phát sinh ngay trong gia đình, họ tộc, thôn xóm. Chính những hiể u biế t chưa că ̣n ke,̃ chưa tới nơi tới chố n của người dân nơi đây, đã đẩ y bao cha me ̣ 11 mấ t con, bao đứa con thơ phải bơ vơ, bao cặp vợ chồng xa cách, bao đôi lứa yêu nhau trên đôi bờ chiến tuyến.
Giă ̣c lơ ̣i du ̣ng cơ hô ̣i đẩ y nhân dân ta vào cuô ̣c tương tàn thảm khốc. Chính lịch sử quê hương và cuộc đời bộ đội ở khắp các chiến trường miền Tây đã tạo nên vốn sống phong phú và có giá tri ̣ cho quá trình viết văn của Nguyễn Quang Sáng. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, những kỷ niệm một thời sôi nổi, một thời đa ̣n bom khói lửa ùa về .