Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Các khái niệm liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 1. Các khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay.
Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do vậy, nó có thể lượng hóa được nguồn lao động là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, theo Bộ luật lao động quy định nguồn lao động là những người “đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động” hay còn gọi là lực lượng lao động. Hiện nay có khá nhiều các quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực: - Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. - Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995).
Luan van 6 - Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức có khả năng và tiềm năng tham gia vào các quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan điểm xem nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sực mạnh, phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức.
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là nguồn nhân lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.” Từ những cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hiểu Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực a. Đào tạo nguồn nhân lực Các khái niệm đào tạo và phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự đó là cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và làm thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của con người.
Tuy nhiên, trong thực tế lại có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đào tạo, phát triển và về sự tương đồng hoặc khác nhau giữa đào tạo và phát triển. Luan van 7 - Đào tạo Là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. - Đào tạo Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai; để có thể cho người đó chuyển tới một công việc mới trong một thời gian thích hợp. - Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định.
- Đào tạo là quá trình cung cấp các kỹ năng cụ thể cho các mục tiêu cụ thể. - Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Tóm lại, có thể nói đào tạo nguồn nhân lực là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một cá nhân, nhóm người, tổ chức về một vấn đề nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định. Phát triển nguồn nhân lực - Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn- vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”.
- Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của Tổ chức quốc tế về lao động thì “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. Luan van 8 - Phát triển nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ, thay đổi quan điểm, thái độ nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng thực hành cho người lao động, để họ có thể đảm nhiệm được một công việc nhất định. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của vùng, của ngành hay của một tổ chức. Nói một cách khác, phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
Như vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng của con người trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào tạo và phát triển đã được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được thực hiện từ bên ngoài như học việc, học nghề và các hoạt động dạy nghề. Mối quan hệ giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có mối quan hệ gắn bó với nhau. Đào tạo bổ sung những vấn đề còn thiếu của nhân lực và nó là cơ sở, là nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực trong tương lai.
Điều này được minh chứng qua bảng 1.1 Luan van 9 Bảng 1.1 Các yếu tố của đào tạo và phát triển Đào tạo Phát triển 1. Tập trung Công việc hiện tại Công việc hiện tại và tương lai 2. Phạm vi Cá nhân Cá nhân, nhóm, tổ chức 3. Thời gian Ngắn hạn Dài hạn Khắc phục sự thiếu hụt về 4.
Mục đích Chuẩn bị cho tương lai kiến thức và kỹ năng hiện tại Nếu phát triển nguồn nhân lực chỉ có thể dựa trên đào tạo mới bền vững, thì ngược lại đào tạo để đáp ứng những tình huồng rút ra từ phát triển nguồn nhân lực, cụ thể: - Đào tạo cung cấp những kỹ năng cụ thể cho công việc hiện tại, qua đó cung cấp những năng lực cần thiết cho tương lai. Mặt khác, quá trình phát triển phải trãi qua kinh nghiệm công tác theo thời gian và được trang bị những năng lực cụ thể thông qua đào tạo. Vì vậy có thể nói đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực. - Đào tạo là một thành tố của quá trình phát triển bao gồm cả những kinh nghiệm hoàn thiện và phát triển những đặc điểm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực.
Đào tạo nguồn nhân lực không chỉ vì đào tạo mà còn phục vụ cho mục đích phát triển. Do đó phát triển chỉ có thể được tiến hành trên đào tạo và dựa trên cơ sở đào tạo là chủ yếu. Trên thực tế, xu hướng của các tổ chức là đào tạo nguồn nhân lực luôn gắn với chiến lược phát triển của đơn vị. Đào tạo được xem là vũ khí chiến lược đối với các tổ chức.
Các nhân viên được đào tạo sẽ ứng dụng các vấn đề học vào công việc cụ thể nhằm phát huy khả năng và nâng cao hiệu quả công việc. Ý nghĩa của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa rất to lớn đối với các đơn vị hành chính. Nó là động lực, là chìa khóa mang lại lợi ích cho cả người lao động và cho tổ chức. Vì thế, việc tổ chức đào tạo một cách có khoa học trong các đơn vị hành chính làm cho yếu tố con người, yếu tố then chốt trong lĩnh vực hành chính công được cải thiện, nâng cao về mọi mặt.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của tổ chức. công tác đào tạo, trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, khả năng sáng tạo và đổi mới của người lao động trong các tổ chức, cụ thể như: - Đối với tổ chức + Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ nâng cao tay nghề và kỹ năng công tác, qua đó tạo nên mối quan hệ đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa tổ chức và người lao động. + Một khi trình độ của mọi người trong một tổ chức hoặc một nhóm có sự tương đồng, sẽ làm cơ sở cho sự gia tăng năng suất phát huy được lợi thế tập thể. + Giảm bớt các bộ phận trung gian và thời gian kiểm tra giám sát của tổ chức đối với người lao động.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hoạt động công vụ. + Tạo ra một lực lượng lao động lành nghề, linh hoạt, sáng tạo và nhanh chóng thích nghi với những thay đổi trong hoạt động của tổ chức.