phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 04 chương sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về đào tạo nguồn nhân lực - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực tại Ban Quản lý dự án ODA tỉnh Lào Cai - Chƣơng 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo tại Ban Quản lý dự án tỉnh Lào Cai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái quát chung về nguồn nhân lực 1.
Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Do vậy, tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề nguồn nhân lực. Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” đã xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đó nhân viên được coi là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay quản lý NNL với phương thức mới mang tính mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển.
Có thể nói, sự xuất hiện thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới so với phương thức quản lý cũ trong sử dụng con người. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về NNL như: Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đ c điểm khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ.
Họ có thể đánh giá và đ t câu hỏi đối với những hoạt động của cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ ho c sự tác động môi trường xung quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đ c điểm nào khác của người lao động. Như vậy để xác định nguồn nhân lực, phải xác định các thông tin cá nhân về định lượng và định tính dưới nhiều khía cạnh khác nhau, thường phải xác định quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo các đ c điểm khác nhau như giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề, theo các đ c điểm về kinh nghiệm, kỹ năng và ngoài ra còn có những mô tả về sự tận tâm, tiềm năng… của người lao động trong tổ chức (Trần Kim Dung, 2018) Theo GS.TS Bùi Văn Nhơn nguồn nhân lực: chính là nguồn lực con người gồm có thể lực (sức khỏe, mức sống,.), trí lực (trí tuệ, năng khiếu, nhân cách.), tâm lực (sự năng động, sáng tạo, thái độ làm việc,.) và được xét theo nhiều khía cạnh: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”.
Theo nghĩa hẹp: bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, đây được gọi là lực lượng lao động. Theo nghĩa rộng: được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, hay một vùng lãnh thổ, một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để cùng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính. Qua đó thấy rằng nguồn lực con người ngoài là lực lượng lao động đã và sẽ có mà còn gồm sức mạnh của tinh thần, trí tuệ, thể chất của cá nhân trong cộng đồng, trong quốc gia được mang ra ho c có khả năng mang ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. (Bùi Văn Nhơn, 2006) Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008) thì: “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”.
“NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Ngày nay, con người được coi là nguồn “tài nguyên đ c biệt”, một nguồn lực then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội, việc đầu tư cho con người không chỉ là đầu tư có tính chiến lược, mà còn là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững. Bởi vậy, việc phát triển nguồn lực có chất lượng chính là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp.
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, những khái niệm trên đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành ực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Trong mỗi doanh nghiệp, NNL là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng NNL của mình để đảm bảo NNL đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai 1.
Đặc điểm và phân loại Khái niệm nguồn nhân lực rộng hơn khái niệm nguồn lao động. Khái niệm này được tiếp cận dưới hai góc độ là: Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực được đo lường thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng. Quy mô và tốc độ dân số càng lớn thì quy mô và tốc độ tăng Nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại.
Tuy nhiên sự tác động này có độ trễ vào chỉ biểu hiện rõ sau một khoảng thời gian nhất định Chất lượng Nguồn nhân lực biểu thị trạng thái nhất định của Nguồn nhân lực, phản ánh thông qua trình độ phát triển kinh tế và đời sống của người dân trong một xã hội nhất định. Các chỉ tiêu phản ánh bao gồm: Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực, chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa, chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật, chỉ số phát triển con người (HDI- Human Development LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Index)… Ngoài những chỉ tiêu trên, người ta còn xem xét năng lực phẩm chất nguồn nhân lực thông qua các chỉ tiêu: Truyền thống lịch sử, nền văn hóa và văn minh, phong tục tập quán của dân tộc,…. Các chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của người lao động (Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực - Đặc trưng về sinh học Theo quan điểm của Mác- Lê nin thì “Lao động là hoạt động bản chất của con người”, trong đó “Hoạt động cả con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội thông qua những hoạt đông này, con người cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng hoàn thiện” (Triết học Mác- Lê nin, 2004).
Con người bằng hoạt động của mình đã làm thay đổi bản chất tự nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình. Do đó, yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong mỗi con người thường gắn bó khăng khít với nhau. Yếu tố sinh học trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện với nhau tồn tại trong yếu tố xã hội. Bản tính tự nhiên thông qua quá trình hoạt động đã biến đổi về m t sinh học làm cho nó mang tính xã hội và từ đó đã làm cho nhu cầu sinh học ở mỗi con người trở thành nhu cầu xã hội.Ăng-ghen có nhận định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người ”( Biện chứng của tự nhiên, Engels,1971) (Nguyễn Ngọc Mai, 2012) - Đặc trưng về số lượng Các đ c trưng về số lượng của Nguồn nhân lực được xác định trên quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực, vùng lãnh thổ của dân cư.
Trên cả phương diện đó, nguồn nhân lực nữ thường ít hơn nguồn nhân lực nam. Ở Việt Nam, Luật Lao động (2012) đã quy định giới hạn của độ tuổi lao động đối với nam là 60, nữ là 55. Việc quy định này xuất phát từ việc ưu tiên phụ nữ được quyền nghỉ hưu sớm hơn nam giới 5 năm do phải sinh đẻ, nuôi dạy con cái dẫn đến thể lực giảm sút. Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ thực hiện đến nay chính sách này đã bộc lộ một số nhược điểm làm hạn chế điều kiện phát triển và nâng cao năng lực địa vị của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.