phần mở đầu, kết luận và đanh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chơng, 5 tiết. NOI DUNG CHUONG 1: DAO DUC PHAT GIAO VA NHUNG NOI DUNG CO BAN CUA DAO DUC PHAT 1. Đạo đức Phật giáo va vị tri của đạo đức Phật giáo trong hệ t tong Phat giao. Khái niệm đạo đức Phật giáo 11.
Khai niém dao ditc Đạo đức là gì ? Có lẽ, câu hỏi này đặt ra khó có thể trả lời một cách văn tắt và ngắn gọn đợc. Bởi lẽ đạo đức xuất hiện từ rất sớm, cùng với sự hình thành của xã hội loài ngời và sẽ không bao giờ biến mắt nếu nh con ngời vẫn còn tồn tại. Chính vì thế, khái niệm đạo đức là gì, nguồn gốc của đạo đức, các yếu tố cấu thành của đạo đức hay những biểu hiện của đạo đức nh thế nào luôn là những vấn đề đợc nhiều học giả quan tâm và cũng đã có rất nhiều quan niệm khác nhau khi giải quyết các vấn đề đó. Trớc hết, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm đạo đức là gi? Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997, “đạo đức” đợc giải thích theo hai nghĩa nh sau: 1.
Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đợc d luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con ngời đối với nhau và đối với xã hội. Pham chat tốt đẹp của con ngời do tu đỡng theo những tiêu chân đạo đức mà có. Trong chữ Hán, từ đạo đức đợc chú giải: “nguyên lý tự nhiên là đạo, đợc vào trong lòng ngời là đức. Cái lợng pháp ngời ta nên noi theo (morale, vertu)”.
Trong tiéng La tỉnh, đạo đức là moralitas, có nghĩa là thái độ, tính cách, ứng xử là sự khác biệt của ý định, quyết định, hành động giữa những cái tốt hoặc đúng và giữa những cái xấu và cái sai. Ở phơng Đông, đạo đức là một trong những phạm trò quan trọng nhất của triết học Trung Hoa cô đại. Đạo đợc hiểu là con đờng sống của con 9 ngời, về sau khái niệm đạo đức đợc vận dụng trong triết học dé chi con dong của tự nhiên. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý.
Nh vậy có thê nói đạo đức của ngời Trung Hoa cô đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi ngời phải tuân theo. Ở phong Tây, ngay từ thời cô đại, các nhà triết học nổi tiếng nh Socrate (469 -399 TCN), Epiquya (341 — 271 TCN), Aristote (384 -322 TCN) đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức. Trong đó, Socrate đợc coi là ngời đặt nền móng cho khoa học đạo đức. Theo Socrate, đạo đức có mối liên hệ mật thiết với van đề ôn định xã hội, bởi vì một xã hội ồn định, con ngời mới có thể nắm bắt đợc cái tỉnh hoa của luân lý.
Tiếp sau Socrate, Aristote đã viết tác phẩm “Đạo đức học” gồm 10 quyên với luận điểm nổi tiếng đó là: chúng ta bàn về đạo đức không phải đề biết đức hạnh là gì mà là dé trở thành con ngời có đức hạnh. Đạo đức là một vấn đề phức tạp, có thể tiếp cận dới góc độ của nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi lĩnh vực lại đem đến một cái nhìn riêng về phạm trò đạo đức. Cụ thể: Dới góc độ xác định đạo đức là một thuật ngữ khoa học, Từ điển triết học đã giải thích khái niệm đạo đức nh sau: “Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con ngời trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không trừ lĩnh vực nào.
Đạo đức khác với những hình thức điều chỉnh hoạt động quần chúng khác (pháp quyền, những quy chế hành chính sản xuất, những sắc lệnh nhà nớc, những truyền thống đân tộc.) ở phơng thức luận chứng và thực hiện những yêu cầu của mình. Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xã hội hoặc các giai cấp biểu hiện dới hình thức những quy định và những sự đánh giá đã đợc mọi ngời thừa nhận và đã hình thành một cách tự phát, đợc củng cô bằng sức mạnh của tắm gơng quần chúng, của thói quen, phong tục, d luận xã hội. Cho nên, những yêu cầu của đạo đức 10 mang hình thức bồn phận phải làm không riêng một ai, nh nhau đối với tất cả, nhng không chịu sự ra lệnh của ai cả. Những yêu cầu này là có tính chất tơng đối bền vững.
Trong khi đó, Từ điển chính trị vắn tắt lại cho rằng: “Đạo đức là toàn bộ các chuân mực hành vi trong xã hội, trong gia đình. Khác với các quy phạm pháp luật mà việc tuân thủ chúng do cơ quan nhà nớc duy tri va kiểm tra, đạo đức dựa trên cơ sở d luận và tác động của xã hội, dựa trên những quan điểm , truyền thống và thói quen” [51,115]. Còn đới góc nhìn đạo đức học của chủ nghĩa Mác thì “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuân mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngời trong quan hệ với nhau và quan hệ xã hội, chúng đợc thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống sức mạnh của d luận xã hội” [18,8]. Theo định nghĩa này, đạo đức đợc xem xét ở ba phơng diện chủ yếu: Thứ nhất, đạo đức với t cách là một hình thái ý thức xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm, quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con ngời với con ngời, con ngời với xã hội nhằm đảm bảo quan hệ lợi ích của cá nhân với cộng đồng.
Thứ hai, đạo đức là phơng thức để điều chỉnh hành vi của con ngời. Những chuẩn mực và quy tắc là những yêu cầu của xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong mới quan hệ với nhau và với xã hội. Thứ ba, đạo đức là một hệ thống giá trị, bao gồm các giá trị vật chất và tỉnh thần, giá trị sản xuất và tiêu dòng và các giá trị chính trị - xã hội, tôn giáo. Đạo đức còn là một phạm trò lịch sử.
Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kì hay mỗi dân tộc, giai cấp đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức nhất định. Trong tác phẩm “Chống Đuy - rinh”, Ăng- ghen đã phê phán sự thừa nhận cua Duy -rinh về một thứ đạo đức vĩnh cửu cho mọi thời đại và khẳng định: “Xét cho cùng, mọi học thuyết đạo đức đã có từ trớc đến nay đều là sản 11 phâm của tình hình kinh tế, của xã hội lúc bấy giờ” và do vậy, “từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thờng trái ngợc hắn nhau”. Mỗi giai cấp khác nhau trong những giai đoạn lịch sử nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình. Những giai cấp đại diện cho xu thế phát triển theo hớng đi lên của xã hội thì sẽ đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ.
Ngợc lại, các giai cấp phản động, đi ngợc với sự phát triển của xã hội thì sẽ đại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Thực tiễn xã hội cho thấy, đạo đức không chỉ là phơng tiện, hơn thế nữa, nó còn là nội dung, mục đích của cuộc sống con ngời vơn tới cái chân, thiện, mỹ. Đó cũng chính là khát vọng, ớc mơ của nhân loại từ ngàn xa cho đến tận mai sau. Một mặt, đạo đức đợc hình thành một cách tự phát dới ảnh hong trực tiếp của đời sống con ngời nhằm đáp ứng các yêu cầu khách quan của đời sống cộng đồng.
Mặt khác, ý thức đạo đức khi đạt đến trình độ lý luận sẽ phản ánh đời sống đạo đức xã hội đợc hình thành và phát triển chủ yếu bằng con ngời giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng. Tóm lại, có thể thấy đạo đức ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ton tại và phát triển của con ngời và xã hội loài ngời. Đạo đức đợc coi là một trong những nhân tổ cơ bản điều chỉnh hành vi của con ngời, là cội nguồn của hạnh phúc và là động cơ, sức mạnh dé chéng lại cái ác, góp phần thúc đây sự phát triển của nền kinh tế, sự tiến bộ của xã hội. Đạo đức đặt ra những nguyên tắc ứng xử, những quan niệm về các mối quan hệ xã hội, nh đối với bản thân, gia đình, xã hội và với tự nhiên.
Vì vậy, tính thiết yếu của đạo đức là rất mạnh mẽ, nó tác động thuận hay nghịch vào quá trình xây dựng hạnh phúc và phát triển xã hội, chuẩn mực của đạo đức bao giờ cũng đợc đặt ở vị trí cao nhất để khích lệ con ngời vơn tới mức hoàn thiện bản thân mình. Khái niệm đạo đức Phát giáo Trong mọi thời kì lịch sử, tôn giáo luôn là một bộ phận quan trọng trong nên văn hóa, văn minh của nhân loại. Tôn giáo không chỉ là nơi đê các 12 tín đồ thể hiện niềm tin của mình mà còn là cầu nối văn hóa giữa các nớc, các khu vực, vì vậy nó có ảnh hởng mạnh mẽ đến đời sống của con ngời. Mỗi tôn giáo đều sẽ có một hệ thống giáo lý, triết lý riêng song nhìn chung thì đều nhằm mục đích là hớng con ngời tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ.
Và Phật giáo cũng không phải là trờng hợp ngoại lệ. Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới. Trong suốt quá trình lịch sử, từ khi hình thành cho đến nay, Phật giáo đã không ngừng phát triển và đã để lại cho nhân loại nhiều t tởng về tôn giáo, triết học, chính trị, mỹ học, văn hóa,.trong đó nổi bật hơn cả là nội dung t tởng đạo đức. Về cơ bản, Phật giáo không phải là một học thuyết về đạo đức, tuy xuất phát điểm của nó lại là sự chỉ dạy của đức Phật cho con ngời biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đờng giải thoát.
Từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của chúng để xây dựng một hệ thống quan niệm đạo đức. Xuyên suốt nội dung giáo lý Phật giáo đều đề cập đến vấn đề đạo đức với mục đích cao cả là hớng con ngời tới điều thiện, sự bình đẳng và hạnh phúc. Nh vậy, đạo đức là nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo lý của Phật giáo.