Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề bún Đa Mai thuộc phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang là một trong những cái nôi sản xuất bún truyền thống nổi tiếng của miền Bắc với bề dày lịch sử hình thành và phát triển hơn 400 năm. Trên tổng diện tích tự nhiên 360,88 ha cùng quy mô dân số 7.242 người phân bố tại 7 tổ dân phố, mật độ dân số của địa phương đạt mức 1.987 người/km2. Quá trình phát triển kinh tế ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ với cơ cấu thương mại và dịch vụ chiếm 45%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 32%, nông nghiệp chiếm 23% tổng giá trị sản xuất toàn phường vào năm 2016. Toàn địa bàn hiện có 112 hộ gia đình duy trì hoạt động chế biến bún quy mô vừa và nhỏ, tập trung mật độ cao tại 4 tổ dân phố trọng điểm gồm Hòa Sơn, Mai Đình, Mai Đọ và Mai Sẫu.

Sự gia tăng sản lượng bún thương phẩm phục vụ thị trường đô thị đã thúc đẩy mạnh mẽ thu nhập của người dân, song cũng làm phát sinh lượng nước thải hữu cơ chưa qua xử lý xả thẳng ra hệ thống thoát nước chung, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và suy thoái nguồn nước ngầm. Thực trạng này làm bùng phát các mâu thuẫn xã hội gay gắt giữa nhóm hộ làm nghề và nhóm dân cư không làm nghề, thể hiện qua 86 vụ khiếu kiện liên quan đến ô nhiễm môi trường được ghi nhận chỉ riêng trong năm 2016. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Nghiêm Thị Trang, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Đình Thi tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian từ tháng 02/2016 đến tháng 03/2017, được triển khai nhằm giải quyết trực diện vấn đề cấp bách này.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung trọng tâm: Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường nước, đất, không khí và rác thải sinh hoạt; Phân tích, nhận diện nguồn gốc và mức độ của các xung đột môi trường xã hội; Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý và kỹ thuật đồng bộ nhằm giảm thiểu xung đột, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho làng nghề truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý luận chính về quản trị học và sinh thái học môi trường. Cơ sở cốt lõi thứ nhất là lý thuyết xung đột môi trường được phát triển bởi Giáo sư Vũ Cao Đàm (năm 2000) và Phó Giáo sư Nguyễn Đình Hòe (năm 2005). Theo quan điểm này, xung đột môi trường là quá trình bất đồng thuận xã hội leo thang từ bất đồng, tranh chấp đến xung đột công khai, nảy sinh từ sự bất bình đẳng trong quyền sở hữu, khai thác và hưởng dụng các thành phần tài nguyên thiên nhiên. Khung phân tích chia xung đột môi trường thành 3 dạng thức cơ bản: xung đột nhận thức do chênh lệch hiểu biết về tác hại ô nhiễm; xung đột mục tiêu giữa tăng trưởng kinh tế hộ gia đình và bảo vệ chất lượng sống cộng đồng; xung đột lợi ích khi nhóm sản xuất thu lợi nhuận nhưng lại đẩy chi phí ngoại ứng tiêu cực về suy thoái môi trường cho các nhóm dân cư lân cận gánh chịu.

Cơ sở thứ hai là luận điểm của UNESCO (năm 1981) về 3 chức năng căn bản của môi trường gồm: cung cấp tài nguyên đầu vào cho sản xuất, tiếp nhận và đồng hóa chất thải, cùng việc duy trì không gian sống cho con người. Khi chất thải từ 112 hộ làm bún vượt quá sức chịu tải đồng hóa của hệ sinh thái cục bộ, sự suy giảm chức năng môi trường sẽ trực tiếp châm ngòi cho các phản kháng xã hội. Khung nghiên cứu cũng vận dụng các quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, làm căn cứ pháp lý để định danh các quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư trong việc kiểm soát các nguồn thải làng nghề.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

Về thu thập dữ liệu thứ cấp, tác giả tiến hành tổng hợp báo cáo kinh tế xã hội, hồ sơ địa chính, số liệu quan trắc khí tượng thủy văn và hồ sơ xử lý khiếu nại môi trường giai đoạn 2012-2016 từ Ủy ban nhân dân phường Đa Mai và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Giang.

Về thu thập dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất của Taro Yamane (năm 1967) với biên độ sai số chấp nhận e = 0,15 trên tổng thể 112 hộ làm nghề. Quy mô mẫu khảo sát thực địa được xác định là 64 hộ gia đình, phân bổ đồng đều gồm 32 hộ trực tiếp sản xuất bún và 32 hộ không tham gia làm nghề để thu thập ý kiến đối sánh đa chiều. Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 8 cán bộ địa phương gồm 1 lãnh đạo Ủy ban nhân dân phường và 7 tổ trưởng tổ dân phố nhằm làm rõ cơ chế giải quyết tranh chấp thực tế.

Về phương pháp thực nghiệm quan trắc hiện trường, các đợt lấy mẫu được tiến hành vào tháng 9/2016, tháng 10/2016 và tháng 3/2017:

  • Lấy 4 mẫu nước thải sản xuất tại các cửa xả thuộc tổ dân phố Mai Đình, Mai Đọ, Hòa Sơn, Mai Sẫu để phân tích 11 thông số (pH, BOD5, COD, Amoni, tổng Nitơ, Coliform...) so sánh với QCVN 40:2011/BTNMT.
  • Lấy 2 mẫu nước mặt tiếp nhận tại tổ dân phố Mai Đình và Hòa Sơn so sánh với QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
  • Lấy 4 mẫu nước ngầm từ giếng khoan của các hộ dân so sánh với QCVN 09-MT:2015/BTNMT.
  • Lấy 4 mẫu không khí và tiếng ồn xung quanh so sánh với QCVN 26:2010/BTNMT và QCVN 05:2013/BTNMT.
  • Lấy 2 mẫu đất nông nghiệp tại cánh đồng Đông Miễu và Bờ Dì so sánh với QCVN 03:2015/BTNMT. Toàn bộ mẫu thực địa được bảo quản theo Tiêu chuẩn Việt Nam và gửi phân tích tại Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích mẫu thực nghiệm và điều tra xã hội học đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về mức độ suy thoái môi trường và tình trạng căng thẳng xã hội tại địa bàn:

Thứ nhất, môi trường nước tiếp nhận bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật ở mức báo động đỏ. Nước thải từ các khâu ngâm gạo, ép bún và rửa dụng cụ chứa hàm lượng chất hữu cơ đậm đặc. Nồng độ BOD5 trong các mẫu nước thải dao động vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT từ 2,4 đến 78,36 lần. Hàm lượng Amoni (NH4+) vượt tiêu chuẩn từ 4,65 đến 10,55 lần, tổng Nitơ vượt 1,18 lần. Đáng chú ý, chỉ số vi khuẩn Coliform vượt ngưỡng cho phép cực lớn từ 186 đến 220 lần, gây ô nhiễm nguồn nước mặt và đe dọa trực tiếp chất lượng tầng nước ngầm sinh hoạt của toàn bộ khu dân cư.

Thứ hai, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và kiểm soát tiếng ồn bộc lộ nhiều lỗ hổng lớn. Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn phường đạt khoảng 4,571 tấn/ngày. Tỷ lệ phân loại rác tại nguồn ghi nhận ở mức gần 0%, khiến rác thải hữu cơ lẫn rác vô cơ bị thải bỏ bừa bãi, làm tắc nghẽn dòng chảy cống rãnh. Về môi trường không khí, mức độ tiếng ồn đo được từ hoạt động của các động cơ máy xay xát, máy ép bột bún vận hành vào khung giờ sáng sớm (từ 2 giờ đến 5 giờ sáng) vượt quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT từ 1,03 đến 1,22 lần.

Thứ ba, xung đột môi trường bùng phát mạnh mẽ với quy mô phức tạp. Năm 2016, phường ghi nhận 86 vụ tranh chấp và khiếu kiện về môi trường. Cơ cấu khiếu nại gồm 55 vụ liên quan đến hành vi xả nước thải bốc mùi hôi thối ra ngõ xóm (chiếm 63,95%), 13 vụ phản ánh về ô nhiễm tiếng ồn và rung lắc từ máy móc (chiếm 15,12%), 5 vụ về xả rác thải bừa bãi (chiếm 5,81%) và 13 vụ việc mâu thuẫn hỗn hợp khác. Đợt kiểm tra liên ngành năm 2016 đối với 112 cơ sở làm bún đã phát hiện 42 hộ vi phạm xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra môi trường (tỷ lệ vi phạm đạt 37,5%) và 2 hộ sử dụng sai mục đích nguồn điện 3 pha phục vụ sản xuất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng ô nhiễm xuất phát từ việc các cơ sở sản xuất có mặt bằng chật hẹp, nằm xen cài trực tiếp trong khu dân cư đông đúc. Các công đoạn sản xuất chủ yếu mới dừng lại ở mức bán cơ giới hóa thô sơ, chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn do hạn chế về diện tích và nguồn vốn tự có của từng hộ gia đình.

Dưới góc độ xung đột xã hội, bản chất của mâu thuẫn tại phường Đa Mai là sự va chạm trực diện giữa lợi ích kinh tế cá nhân của 112 hộ làm nghề và quyền được sống trong môi trường trong lành của hơn 7.000 cư dân toàn phường. Sự bất bình đẳng phát sinh khi các hộ làm bún tạo ra thu nhập cao nhưng lại chuyển giao toàn bộ chi phí xử lý ô nhiễm và hệ lụy bệnh tật cho cộng đồng xung quanh.

Khi đối chiếu với bức tranh toàn quốc, kết quả khảo sát 52 làng nghề của Bộ Tài nguyên và Môi trường từng chỉ ra 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng ở cả ba môi trường đất, nước, không khí; tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp về đường hô hấp và tiêu hóa tại làng nghề bún Phú Đô (Hà Nội) lên đến 50%, làng nghề Dương Liễu đạt mức 70%. Tại Đa Mai, số liệu thống kê trạm y tế cũng cho thấy các bệnh về da liễu, đau mắt và đường ruột ở người dân địa phương có xu hướng tăng theo quy mô sản lượng bún.

Các dữ liệu quan trắc và khảo sát này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ vượt chuẩn của các thông số hóa lý (BOD5, COD, Amoni, Coliform) so với quy chuẩn quốc gia, cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu tỷ lệ các dạng xung đột môi trường xã hội, giúp các nhà quản lý dễ dàng nhận diện điểm nóng ô nhiễm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm và dung hòa các xung đột xã hội tại làng nghề bún Đa Mai, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Hoàn thiện quy chế quản lý và thực thi hương ước môi trường: Ủy ban nhân dân phường Đa Mai phối hợp với 7 ban cán sự tổ dân phố rà soát, bổ sung các điều khoản bảo vệ môi trường vào hương ước làng văn hóa; đặt mục tiêu 100% hộ làm nghề ký cam kết không xả thải trực tiếp trước tháng 12 năm 2017; kiện toàn tổ hòa giải cơ sở để xử lý dứt điểm trên 80% mâu thuẫn môi trường ngay tại địa bàn tổ dân phố trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ khi tiếp nhận đơn thư.

  2. Chuyển giao công nghệ xử lý nước thải và khí sinh học: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Giang chủ trì phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ chuyển giao công nghệ hầm Biogas cải tiến kết hợp bể lọc sinh học hiếu khí Aeroten cho các hộ sản xuất. Mục tiêu kỹ thuật đặt ra là giảm thiểu tối thiểu 70% hàm lượng COD và BOD5 trước khi xả thải ra hệ sinh thái tiếp nhận, triển khai hỗ trợ kỹ thuật và vốn vay ưu đãi cho khoảng 50 hộ làm bún tiêu biểu trong giai đoạn 2017-2018.

  3. Quy hoạch và xây dựng cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung: Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang làm chủ đầu tư xây dựng dự án di dời 112 cơ sở sản xuất bún ra khỏi vùng lõi dân cư về Cụm công nghiệp tập trung của địa phương với trạm xử lý nước thải tập trung công suất dự kiến 500 m3/ngày đêm theo lộ trình phân kỳ giai đoạn 2018-2020.

  4. Nâng cao năng lực và nhận thức cộng đồng: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phường Đa Mai định kỳ tổ chức 4 khóa tập huấn mỗi năm về kỹ thuật phân loại rác thải tại nguồn cho 100% hộ dân; công khai danh sách 42 hộ từng vi phạm quy chuẩn xả thải trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở để tạo áp lực giám sát xã hội từ chính cộng đồng dân cư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp cơ sở (Ủy ban nhân dân phường Đa Mai, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Giang, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang): Luận văn cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về hiện trạng xả thải và bức tranh khiếu kiện xã hội thực tế, hỗ trợ hoạch định chính sách phân vùng môi trường, kiểm tra xử phạt và xây dựng quy hoạch làng nghề bền vững.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Xã hội học Nông thôn: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu hóa lý môi trường và phương pháp đánh giá xung đột xã hội theo công thức chọn mẫu Yamane (năm 1967).

Thứ ba, Ban quản lý Hợp tác xã sản xuất bún Đa Mai và các chủ cơ sở chế biến thực phẩm: Nghiên cứu giúp các hộ sản xuất nhận thức rõ rủi ro pháp lý từ việc xả thải vượt chuẩn (BOD5 vượt tới 78 lần), đồng thời tiếp cận các giải pháp công nghệ xử lý nước thải chi phí thấp phù hợp với quy mô hộ gia đình.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới hoạt động xã hội vì môi trường: Cung cấp case study thực chứng về cơ chế hòa giải xung đột cộng đồng dựa trên nền tảng thương lượng và đối thoại chính sách ở cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến 86 vụ khiếu kiện môi trường tại làng nghề Đa Mai năm 2016? Xung đột phát sinh do mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế của 112 hộ làm bún và quyền được hưởng môi trường trong lành của người dân xung quanh. Nước thải hữu cơ đậm đặc và tiếng ồn máy xay xát vận hành từ sáng sớm xả trực tiếp ra khu dân cư khiến 55 vụ phản ánh về nước thải và 13 vụ về tiếng ồn bùng phát.

Mức độ ô nhiễm nước thải sản xuất bún tại Đa Mai vượt quy chuẩn cho phép bao nhiêu lần? Kết quả quan trắc 4 mẫu nước thải đối chiếu với QCVN 40:2011/BTNMT cho thấy nồng độ BOD5 vượt chuẩn từ 2,4 đến 78,36 lần, Amoni vượt từ 4,65 đến 10,55 lần, tổng Nitơ vượt 1,18 lần và chỉ số vi khuẩn Coliform vượt mức cho phép từ 186 đến 220 lần.

Quy mô mẫu điều tra xã hội học trong luận văn được xác định theo phương pháp nào? Tác giả áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất của Taro Yamane (năm 1967) với độ tin cậy cao và mức sai số e = 0,15 từ tổng thể 112 hộ sản xuất, chọn ra mẫu điều tra đại diện gồm 64 hộ gia đình (32 hộ làm nghề và 32 hộ không làm nghề) cùng 8 cán bộ địa phương.

Hiệu quả xử lý vi phạm môi trường của chính quyền phường Đa Mai năm 2016 đạt kết quả ra sao? Ủy ban nhân dân phường phối hợp thanh tra toàn bộ 112 hộ làm nghề, phát hiện và lập biên bản xử lý 42 hộ vi phạm hành vi xả nước thải sản xuất trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung cùng 2 hộ vi phạm quy định sử dụng điện 3 pha sai mục đích.

Giải pháp kỹ thuật nào được khuyến nghị để xử lý nước thải làng nghề bún Đa Mai hiệu quả nhất? Đề tài đề xuất ứng dụng mô hình hầm ủ Biogas cải tiến kết hợp cụm bể lọc sinh học hiếu khí Aeroten. Giải pháp này phù hợp mặt bằng hộ gia đình, tận dụng bã thải sản xuất khí đốt sinh học và giúp cắt giảm tối thiểu 70% tải lượng hữu cơ COD, BOD5 trong nước thải.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường tại làng nghề bún Đa Mai, chỉ ra nồng độ BOD5 trong nước thải vượt tới 78,36 lần và Coliform vượt 220 lần so với quy chuẩn quốc gia.
  • Nghiên cứu nhận diện và lượng hóa chính xác 86 vụ khiếu kiện môi trường trong năm 2016, phân loại thành công 3 dạng thức xung đột cốt lõi: nhận thức, mục tiêu và lợi ích kinh tế giữa các nhóm xã hội.
  • Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực chứng tin cậy về tỷ lệ 37,5% cơ sở sản xuất vi phạm xả thải, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện thể chế quản lý.
  • Đề tài đề xuất lộ trình giải pháp 4 trọng tâm bao gồm hoàn thiện hương ước, hỗ trợ kỹ thuật Biogas-Aeroten, quy hoạch cụm công nghiệp tập trung giai đoạn 2018-2020 và tăng cường đối thoại cộng đồng.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chính quyền địa phương hãy khai thác triệt để nguồn cơ sở dữ liệu và khuyến nghị từ luận văn thạc sĩ này để áp dụng vào công tác bảo tồn, phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trên phạm vi toàn quốc.