Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Môi trường đất và nước (mã số: 62 44 03 03) của tác giả Ngô Thị Thùy Dương, thực hiện năm 2015 tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Đình Thành và PGS. Lưu Đức Hải, có tiêu đề: “Đánh giá và dự báo xung đột môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srê Pốk”.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tài nguyên nước mặt lưu vực sông (LVS) Srê Pốk giữ vai trò cốt lõi trong phát triển kinh tế – xã hội, duy trì hệ sinh thái và bảo đảm an ninh – quốc phòng của khu vực Tây Nguyên. Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh của các ngành kinh tế (thủy điện, nông nghiệp trồng cây công nghiệp, công nghiệp, đô thị hóa) cùng với nạn phá rừng, tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và việc quản lý phân tán đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt, suy giảm chất lượng nước mặt. Sự phân bố không đồng đều của nguồn nước theo không gian và thời gian làm phát sinh các mâu thuẫn, tranh chấp gay gắt giữa các đối tượng sử dụng nước (giữa thủy điện với nông nghiệp, giữa thượng lưu với hạ lưu, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, cũng như nguy cơ xung đột xuyên biên giới sang lãnh thổ Cam-pu-chia).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các nghiên cứu trước đây tại LVS Srê Pốk chủ yếu mang tính độc lập, đơn ngành (đánh giá tiềm năng tài nguyên nước, tính toán thủy văn, lập quy hoạch thủy lợi hoặc quy trình vận hành liên hồ chứa phục vụ phát điện và cắt lũ), chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống theo phương pháp luận liên ngành và tiếp cận từ dưới lên (bottom-up) để nhận diện, phân loại, đánh giá và dự báo các xung đột môi trường (XĐMT) trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Nhận diện và dự báo được XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt LVS Srê Pốk.
- Xác định, phân tích được nguyên nhân và tác động của XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt LVS Srê Pốk.
- Đề xuất được các giải pháp tổng thể giảm thiểu, quản lý XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt LVS Srê Pốk nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước.
Luận điểm bảo vệ
- XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên (bao gồm tài nguyên nước) là một quá trình xuất phát từ nhiều phương diện khác nhau: từ thiếu nhận thức và thông tin; từ lợi ích của các bên liên quan (nhà nước/chính quyền, doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư); xu hướng BĐKH và đặc điểm văn hóa truyền thống. Nghiên cứu XĐMT trên LVS Srê Pốk cần dựa trên đặc điểm nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước, cơ sở luật pháp, văn hóa truyền thống và phong tục tập quán của người dân bản địa Tây Nguyên.
- Trên LVS Srê Pốk đang hình thành và phát triển các loại XĐMT: XĐMT giữa các ngành kinh tế, XĐMT giữa thượng lưu – hạ lưu, XĐMT giữa phát triển và bảo vệ môi trường. Các XĐMT này ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa, trật tự an toàn xã hội, an ninh – quốc phòng và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với cộng đồng. Để quản lý XĐMT cần đánh giá, dự báo, phân tích nguyên nhân, tác động và đề xuất giải pháp kiểm soát phù hợp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt ở LVS Srê Pốk, bao gồm các cấp độ: mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột môi trường.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ LVS Srê Pốk thuộc phần chủ quyền Việt Nam (nằm trên địa bàn 4 tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng; gồm 23 huyện/thị xã/thành phố và 244 xã/phường/thị trấn; diện tích lưu vực 18.139 km² đến 18.264 km²).
- Phạm vi thời gian: Thu thập chuỗi số liệu khí tượng, thủy văn nhiều năm; số liệu hiện trạng phát triển kinh tế – xã hội và khai thác tài nguyên nước giai đoạn 2004–2011; tính toán dự báo nhu cầu nước và nguy cơ xung đột đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hướng nghiên cứu quốc tế về xung đột môi trường và tài nguyên nước
Nghiên cứu XĐMT bắt đầu phát triển từ những năm 1990:
- Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES - Đại học Quốc gia Australia, 1990, 1995) công bố tài liệu “Những rủi ro và cơ hội. Quản lý tổng hợp XĐMT và biến đổi MT”.
- Thomas F. Homer-Dixon (1991) công bố công trình về biến đổi môi trường như một nguyên nhân dẫn đến xung đột gay gắt; bài báo trên tạp chí Scientific American (1993) phân tích mối quan hệ giữa cạn kiệt tài nguyên tái tạo và xung đột vũ trang.
- Viện Công nghệ Châu Á (AIT, 1993) đưa khái niệm, nguyên nhân và lý thuyết giải quyết XĐMT vào chương trình đào tạo.
- Burgess & Heidi Burgess (1994), Eric Mayer (1996 với tác phẩm Resolving Environmental Conflict: Towards Sustainable Community Development), Quốc hội Mỹ thành lập Viện Nghiên cứu Giải quyết XĐMT (IECR, 1998).
- Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu XĐMT: tiếp cận quá trình ra quyết định (Kahneman và Tversky); tiếp cận biến đổi xã hội và kịch bản phát triển (Martin và Larre); tiếp cận khoa học quản lý môi trường (Lewicki và Gray, Kaufman và Smith, Vajjhala và Seifert, Shmueli và Ben-Zal).
- Nghiên cứu xung đột tài nguyên nước: Bojorquez L.O (xây dựng tiêu chí và đàm phán giải quyết xung đột nước); Selman và Phillips (xung đột quốc tế trên sông liên quốc gia); Syed S. (nghiên cứu mâu thuẫn sử dụng nước LVS Mekong); Vukovic (đề xuất hệ thống chỉ số dự báo rủi ro xung đột nước: trữ lượng, chất lượng, quản lý đa mục tiêu, thiết lập địa chính trị); UNDP (2008) ban hành tài liệu tập huấn về kỹ năng đàm phán và giải quyết xung đột cho Quản lý tổng hợp tài nguyên nước; Hội nghị Đại học Toronto (3/2011) về nguy cơ xung đột nước toàn cầu; Ủy hội sông Mê Kông (MRC) với các thủ tục chia sẻ thông tin, duy trì dòng chảy và giám sát sử dụng nước.
Tình hình nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu chung về XĐMT: Nguyễn Thị Hiền (2002) về làng nghề; Cục Môi trường (2000) về ứng phó XĐMT đến 2010; Viện Xã hội học (2007) về hành vi cư dân nông thôn; Đại học Nông nghiệp phối hợp tổ chức DIIS Đan Mạch (2010) nghiên cứu tại Con Cuông (Nghệ An); Dự án SECOA (2010–2013) nghiên cứu XĐMT vùng ven bờ.
- Nghiên cứu tài nguyên nước và môi trường Tây Nguyên: Ngô Đình Tuấn (1993), Đề tài KT 07.05, Đoàn Văn Cánh (2004), Trần Thục (2008), Lê Đình Thành (2008), Lê Ngọc Thanh (2014, Đề tài TN3/T17), Viện Địa lý (2011, Đề tài Tây Nguyên III).
- Nghiên cứu trên LVS Srê Pốk: Viện Quy hoạch Thủy lợi (2006, 2008, 2012, 2013); Nguyễn Thị Mai (2012) về quy trình liên hồ mùa cạn; Trịnh Văn Tường (2012) về quy trình liên hồ mùa lũ; Quyết định ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên LVS Srê Pốk (các hồ Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk 3, Srêpốk 4, Srêpốk 4A).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật thủy văn, trữ lượng nguồn nước hoặc các giải pháp quy hoạch theo ngành dọc. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về phương pháp luận đánh giá tổng hợp XĐMT, xây dựng ma trận nhận diện, áp dụng mô hình DPSIR và phân tích sâu các xung đột gắn với văn hóa bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên, từ đó xây dựng cơ sở khoa học để dự báo và đề xuất các giải pháp giải quyết xung đột nước mặt theo hướng phát triển bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Khái niệm xung đột xã hội: Sự không tương thích giữa các yếu tố trong hệ thống dẫn đến trục trặc (theo các học giả quốc tế); trạng thái đối lập về nhu cầu, giá trị và quyền lực giữa các bên (Larr; Castro và Nielson; Peter Endruweit).
- Khái niệm XĐMT:
- Định nghĩa của Viện Công nghệ Châu Á (AIT), Stephan Libiszewski, Spillmann và Bächler, Wallensteen.
- Quan điểm của các tác giả Việt Nam: Vũ Cao Đàm (xung đột quyền lợi khai thác tài nguyên môi trường); Nguyễn Đình Hòe (quá trình bất đồng thuận leo thang qua 3 bậc thang: Mâu thuẫn $\rightarrow$ Tranh chấp $\rightarrow$ Xung đột).
- Khái niệm luận án xác lập: “XĐMT là một quá trình bất đồng thuận trong xã hội, leo thang từ mâu thuẫn, qua tranh chấp, lên xung đột, nảy sinh từ các quan hệ bất đồng trong sở hữu, khai thác, sử dụng và quản lý các dạng tài nguyên, các thành phần môi trường của những đối tượng liên quan.”
- Phân loại XĐMT: Theo Luật Bảo vệ môi trường (1993, 2005, 2014); theo nguyên nhân (nhận thức, mục tiêu, lợi ích, quyền lực, giữa con người và tự nhiên); theo mức độ nguy hại (Bảng 1.1); theo hành động (đe dọa, trừng phạt, đàm phán - Lê Thanh Bình); theo không gian (vi mô, vĩ mô - Warner và Bruckmeier).
| Mức độ XĐMT | Đặc điểm nhận diện |
|---|---|
| Không nghiêm trọng | Mức độ thấp, không xuất phát từ chênh lệch quyền lực lớn, các bên hiểu rõ lợi ích, không gây tác hại lớn. |
| Ít nghiêm trọng | Xuất hiện giữa các chủ đầu tư cùng khai thác một địa bàn, có thể dễ dàng dàn xếp, thỏa thuận. |
| Nghiêm trọng | Dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ, tranh chấp căng thẳng giữa các đương sự. |
| Rất nghiêm trọng | Xuất phát từ bất bình đẳng lớn về quyền lực, tài nguyên, tài chính và chính trị; có nguy cơ bùng phát xung đột bạo lực. |
- Khung lý thuyết giải quyết và hòa giải XĐMT:
- 5 phương thức giải quyết của E. Wertheim: Cạnh tranh (win-lose), Hợp tác (win-win), Thỏa hiệp, Tránh né, Hòa giải/dàn xếp.
- Mô hình kim tự tháp của Jan Teun Visscher: Gia tăng sự đồng thuận bằng cách ưu tiên hòa giải và đàm phán trước khi dùng can thiệp pháp luật.
- Phương thức ADR (Alternative Dispute Resolution): Đàm phán (Negotiation), Tạo điều kiện thuận lợi (Facilitation), Hòa giải (Mediation), Phân xử trọng tài (Arbitration).
- 7 cách tiếp cận hòa giải môi trường: Công khai thông tin; tiếp cận mềm; thương thuyết chiến lược; tiếp cận win-win; tư duy phản biện; thượng tôn pháp luật; tôn trọng văn hóa bản địa.
- Khung phân tích DPSIR: Động lực (Driving Forces) $\rightarrow$ Áp lực (Pressure) $\rightarrow$ Hiện trạng (State) $\rightarrow$ Tác động (Impact) $\rightarrow$ Đáp ứng (Response).
| Phương thức (theo E. Wertheim) | Nội dung bản chất |
|---|---|
| Cạnh tranh | Thỏa mãn nhu cầu của bản thân là quan trọng nhất; bỏ qua nhu cầu của bên khác. |
| Hợp tác | Thỏa mãn nhu cầu của tất cả các bên tham gia; tìm giải pháp cùng có lợi (win-win). |
| Thỏa hiệp | Mỗi bên nhượng bộ một phần để đạt được mức độ thỏa mãn tương đối. |
| Tránh né | Không hành động, không quan tâm đến nhu cầu của mình hoặc của bên khác. |
| Hòa giải, dàn xếp | Đặt lợi ích và nhu cầu của bên khác lên trên nhu cầu của mình để giữ hòa khí. |
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận tổng hợp đa ngành, tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng (PRA), tiếp cận phân tích các bên liên quan và tiếp cận lưu vực sông kết hợp văn hóa bản địa.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thống kê, tổng hợp dữ liệu thứ cấp về kinh tế – xã hội, khí tượng, thủy văn và thổ nhưỡng 4 tỉnh thuộc LVS Srê Pốk.
- Phương pháp ma trận xung đột: Thiết lập ma trận nhận diện mâu thuẫn đan xen giữa các nhóm ngành dùng nước (thủy điện, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, giao thông thủy, du lịch, sinh hoạt đô thị và nông thôn).
- Phương pháp cân bằng nước và mô hình hóa: Tính toán cân bằng nguồn nước đến và nhu cầu dùng nước theo các tần suất thiết kế $P = 75%$ và $P = 85%$ cho năm 2010 và dự báo đến năm 2020 có xét đến yếu tố BĐKH.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Chuỗi số liệu dòng chảy, lượng mưa tại các trạm thủy văn chính: Buôn Hồ, Krông Bông, Giang Sơn, Đức Xuyên, Cầu 14, Bản Đôn từ Viện Quy hoạch Thủy lợi (2006, 2013).
- Số liệu đất đai từ Báo cáo quy hoạch sử dụng đất tỉnh Gia Lai của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp và Viện Nghiên cứu Địa chính.
- Số liệu kinh tế – xã hội, dân số, GDP 4 tỉnh Tây Nguyên năm 2011 trích xuất từ các nghiên cứu thống kê (Phạm Tấn Hà, 2013).
- Các văn bản pháp quy: Luật Bảo vệ môi trường (1993, 2005, 2014), Luật Tài nguyên nước 2012, Luật Khoáng sản 2010, Luật Đất đai 2003, Quy trình vận hành liên hồ chứa sông Srê Pốk (2014).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về xung đột, xung đột môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước và tổng quan lưu vực sông Srê Pốk
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về XĐMT, tổng quan tình hình nghiên cứu và phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của địa bàn nghiên cứu:
- Đặc trưng tự nhiên và mạng lưới sông ngòi: Sông Srê Pốk là phụ lưu lớn của sông Mê Kông, tổng diện tích lưu vực 29.500 km² (phần thuộc Việt Nam là 18.139 km² đến 18.264 km², có 240 km đường biên giới chung với Cam-pu-chia). Dòng chính được hợp thành từ hai nhánh lớn: sông Krông Nô (sông Bố, dài 143 km, diện tích lưu vực 3.944 km²) bắt nguồn từ đỉnh Chư Yang Sin (2.442 m) và sông Krông Ana (sông Mẹ, dài 215 km, diện tích lưu vực 3.965 km²) gồm 3 nhánh phụ (Krông Buk dài 58 km, Krông Bông dài 56 km, Krông Pách). Dòng chính từ ngã ba Krông Nô – Krông Ana đến biên giới Cam-pu-chia dài khoảng 315 km, độ dốc 2,3‰.
| Tuyến trạm thủy văn | Diện tích lưu vực $F$ ($\text{km}^2$) | Lưu lượng bình quân $Q_0$ ($\text{m}^3/\text{s}$) | Tổng lượng dòng chảy $W_0$ ($10^9\text{ m}^3$) |
|---|---|---|---|
| Buôn Hồ | 178 | 4,60 | 0,147 |
| Krông Bông | 788 | 20,90 | 0,660 |
| Giang Sơn | 3.180 | 72,90 | 2,149 |
| Đức Xuyên | 3.080 | 107,90 | 3,219 |
| Cầu 14 | 8.670 | 235,40 | 6,974 |
| Bản Đôn | 10.700 | 270,70 | 8,142 |
- Tài nguyên nước và khí hậu: Tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của lưu vực (phần Việt Nam) đạt 9,69 tỷ m³. Lượng mưa bình quân năm đạt 1.820 mm, phân bố không đều (Đắk Nông đạt 2.300 mm, trong khi Krông Buk chỉ đạt 1.450 mm). Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10/11, chiếm trên 85% tổng lượng mưa cả năm; mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 15–20% dòng chảy.
- Thổ nhưỡng: Lưu vực có 11 nhóm đất chính, trong đó đất đỏ bazan chiếm tỷ trọng lớn nhất ($6.493\text{ km}^2$, tương đương 35,55%), tiếp theo là nhóm đất nâu vàng bán khô hạn ($1.566\text{ km}^2$), đất phù sa ($710\text{ km}^2$, 3,89%), đất đen, đất glêy, đất sét chặt và đất xói mòn trơ sỏi đá.
| Nhóm đất | Diện tích ($\text{km}^2$) | Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|
| Đất đỏ (bazan) | 6.493 | 35,55 |
| Đất nâu vàng bán khô hạn | 1.566 | 8,57 (hoặc 35,95% theo bảng nguyên văn) |
| Đất phù sa | 710 | 3,89 |
| Đất nâu thẫm | 657 | 3,60 |
| Đất xói mòn trơ sỏi đá | 539 | 2,95 |
| Đất đen | 401 | 2,20 |
| Đất Glêy | 337 | 1,84 |
| Đất có tầng sét chặt | 337 | 1,84 |
| Đất mới biến đổi | 248 | 1,36 |
| Đất nứt nẻ | 65 | 0,36 |
| Tổng diện tích | 18.264 | 100,00 |
- Kinh tế – xã hội và văn hóa: Dân số năm 2011 đạt 2,14 triệu người, mật độ 116 người/km² (tập trung cao nhất tại TP. Buôn Ma Thuột: 888 người/km²; thấp nhất tại huyện Lạc Dương: 11 người/km², Đắk Glong: 29 người/km², Ea Súp: 34 người/km²). Lưu vực có gần 50 dân tộc, người Kinh chiếm 72%, người Êđê chiếm 15,65%, còn lại là Gia Rai, Ba Na, M'nông... Tổng sản phẩm lưu vực năm 2011 đạt 51.195 tỷ đồng.
| Khu vực kinh tế | Giá trị (Triệu đồng) | Cơ cấu (%) |
|---|---|---|
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản | 27.184.545 | 53,10 |
| Công nghiệp và xây dựng | 9.926.711 | 19,39 |
| Thương mại - Dịch vụ | 14.083.744 | 27,51 |
| Tổng sản phẩm (GDP) | 51.195.000 | 100,00 |
- Hiện trạng bất cập trong khai thác nước:
- Nông nghiệp sử dụng lãng phí: 65% diện tích cà phê tưới bằng nước ngầm. Khuyến cáo kỹ thuật chỉ cần 400 lít/gốc/lần tưới nhưng nông dân tưới tới 600 lít/gốc/lần. Hạn hán vụ Đông Xuân năm 2004 làm 76.365 ha bị hạn (chiếm 86% diện tích gieo trồng), trong đó mất trắng 59.000 ha.
- Thủy điện gây kiệt dòng chảy: Vụ Đông Xuân 2012–2013, Nhà máy Thủy điện Buôn Tua Srah tích nước không xả về hạ lưu khiến các trạm bơm huyện Krông Nô trơ đáy, người dân phải đắp rọ đá ngăn sông để bơm nước. Mùa mưa 2013, sự cố vỡ kênh dẫn nước Thủy điện Srêpốk 4A do lũ tràn vào đã gây ngập lụt nghiêm trọng vùng hạ du. Ngoài ra, việc thi công kênh dẫn Srêpốk 4A làm khô cạn lòng sông cũ và hoạt động khai thác cát dọc sông Krông Ana gây sạt lở bờ sông nghiêm trọng.
Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết khung logic, sơ đồ tiếp cận và quy trình nghiên cứu:
- Thiết lập sơ đồ tiếp cận nghiên cứu XĐMT LVS Srê Pốk: Kết nối các yếu tố từ nguồn phát sinh (hoạt động thủy điện, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch, sinh hoạt đô thị/nông thôn, khai thác cát) chịu sự chi phối của cơ chế quản lý, quy hoạch phát triển và tập quán văn hóa bản địa.
- Phân loại nguyên nhân XĐMT:
- Nhóm nguyên nhân khách quan: Phân bố tự nhiên không đồng đều của nguồn nước theo không gian/thời gian; tác động của BĐKH gây hạn hán và lũ lụt cực đoan; đặc điểm địa hình chia cắt.
- Nhóm nguyên nhân chủ quan: Sự yếu kém và chồng chéo trong quản lý tài nguyên nước giữa các ngành/địa phương; thiếu quy hoạch tích hợp lưu vực; khai thác quá mức và lãng phí nước; thiếu sự tham gia bình đẳng của cộng đồng địa phương; các lỗ hổng chính sách và cơ chế giám sát thực thi pháp luật.
- Nhận diện các nhóm hậu quả và tác động của XĐMT:
- Ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất của các ngành kinh tế (nông nghiệp thiếu nước tưới, thủy điện giảm công suất phát điện, du lịch suy giảm cảnh quan sinh thái).
- Phá vỡ mối quan hệ hài hòa thượng lưu – hạ lưu.
- Làm suy thoái chất lượng nước mặt do tiếp nhận nước thải không qua xử lý và rửa trôi xói mòn đất.
- Gây căng thẳng, giảm sút niềm tin trong quản lý nhà nước khi chính quyền phải xử lý khiếu kiện.
- Đe dọa trật tự an toàn xã hội, an ninh – quốc phòng và tiềm ẩn mâu thuẫn xuyên biên giới với hạ lưu Cam-pu-chia.
- Tác động tiêu cực đến văn hóa truyền thống, phong tục gắn với bến nước và tình đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả đánh giá thực nghiệm, tính toán dự báo và hệ thống giải pháp đề xuất:
- Nhận diện các dạng XĐMT trên lưu vực:
- Xung đột về số lượng nước: Mâu thuẫn giữa quy trình tích nước phát điện của bậc thang thủy điện (Dray Hling, Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk 3, Srêpốk 4, Srêpốk 4A) với nhu cầu xả nước phục vụ trạm bơm tưới nông nghiệp hạ du trong mùa kiệt; mâu thuẫn giữa xả lũ khẩn cấp của hồ chứa với tình trạng ngập úng đất sản xuất của người dân ven sông.
- Xung đột về chất lượng nước: Nước thải công nghiệp chế biến nông lâm sản, chất thải sinh hoạt đô thị và dư lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật từ đất nông nghiệp xả trực tiếp vào sông hồ làm ô nhiễm nguồn cấp nước sinh hoạt; việc phá rừng đầu nguồn làm gia tăng bùn cát lắng đọng lòng hồ thủy điện.
- Xung đột về đất đai và sinh kế: Diện tích đất rừng và đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi, ngập úng vĩnh viễn hoặc sạt lở do xây dựng công trình thủy điện và nạn khai thác cát lòng sông.
- Phân tích nguyên nhân và tính toán cân bằng nước:
- Sử dụng mô hình DPSIR để chỉ ra các động lực kinh tế thúc đẩy mở rộng diện tích cà phê, cao su và tăng công suất thủy điện vượt quá sức chịu tải môi trường nước.
- Tổng hợp nhu cầu dùng nước của các tiểu vùng lưu vực năm 2010 và 2020 ứng với tần suất $P = 75%$ và $P = 85%$. Kết quả tính toán cho thấy trong điều kiện biến đổi khí hậu đến năm 2020, lưu vực sông Srê Pốk sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nước mặt nghiêm trọng trong mùa khô tại các tiểu vùng hạ lưu Krông Ana, Krông Bông và Buôn Hồ.
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Nhóm giải pháp thể chế và quản lý: Thực hiện nghiêm túc Quy trình vận hành liên hồ chứa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 05/8/2014; thành lập và nâng cao năng lực Ủy ban Quản lý lưu vực sông Srê Pốk; hoàn thiện quy hoạch phân bổ tài nguyên nước tích hợp đa mục tiêu.
- Nhóm giải pháp kỹ thuật và giảm thiểu mâu thuẫn thủy điện: Điều chỉnh quy trình xả nước dòng chảy tối thiểu (dòng chảy môi trường) tại các đập Buôn Tua Srah, Srêpốk 4A để duy trì sự sống thủy sinh và cấp nước cho các trạm bơm hạ du; gia cố chống sạt lở bờ sông Krông Ana, Krông Nô.
- Nhóm giải pháp nông nghiệp và cộng đồng: Chuyển đổi mô hình tưới tiết kiệm nước (tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa) cho cây cà phê theo định mức 400 lít/gốc; nâng cao nhận thức cộng đồng; tôn trọng văn hóa bản địa, phong tục quản lý bến nước truyền thống của đồng bào Êđê, M'nông; áp dụng các công cụ hòa giải cơ sở và phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR) với sự tham gia của các tổ chức xã hội và già làng, trưởng bản.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
Luận án tự xác định 4 đóng góp mới chủ yếu:
- Góp phần hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu, đánh giá XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt tại các lưu vực sông.
- Nhận diện được đầy đủ các mâu thuẫn, XĐMT và xác lập đặc điểm bản chất của các dạng XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt LVS Srê Pốk.
- Phân tích sâu sắc các XĐMT trong khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước mặt LVS Srê Pốk trên cơ sở đặc điểm văn hóa, tập quán xã hội đặc thù của các cộng đồng dân tộc bản địa Tây Nguyên.
- Đề xuất được hệ thống giải pháp tổng thể, khả thi nhằm giảm thiểu và quản lý hiệu quả các XĐMT trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srê Pốk.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị các bộ ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương) và UBND 4 tỉnh lưu vực (Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng) sớm thể chế hóa cơ chế điều phối liên ngành, liên tỉnh trong quản lý tài nguyên nước mặt.
- Rà soát, thanh tra việc tuân thủ quy trình vận hành xả nước mùa cạn của các nhà máy thủy điện bậc thang trên dòng chính Srê Pốk.
- Tăng cường kinh phí và phân quyền cho cấp cơ sở trong công tác giám sát chất lượng nước và hòa giải tranh chấp môi trường tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ LVS Srê Pốk thuộc chủ quyền Việt Nam, chưa thể tiến hành khảo sát thực địa toàn diện trên phần hạ lưu lưu vực thuộc lãnh thổ Cam-pu-chia do giới hạn về địa giới hành chính và dữ liệu quốc tế.
- Số liệu giám sát chất lượng nước mặt tại một số tiểu lưu vực nhánh vùng sâu, vùng xa còn gián đoạn theo chuỗi thời gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá tác động xuyên biên giới của hệ thống bậc thang thủy điện Srê Pốk tới hạ lưu sông Mê Kông thuộc Cam-pu-chia trong khuôn khổ hợp tác Ủy hội sông Mê Kông (MRC).
- Ứng dụng các mô hình toán thủy văn - thủy lực chi tiết và công cụ GIS trực tuyến để mô phỏng, cảnh báo sớm nguy cơ xung đột nước mặt theo thời gian thực.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Quản lý môi trường, Môi trường đất và nước, Thủy văn học, Quản lý tài nguyên thiên nhiên; cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về xã hội học môi trường, lý thuyết xung đột và phương pháp luận phân tích xung đột lưu vực sông.
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cục Quản lý Tài nguyên nước, Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT), Sở TN&MT và Sở NN&PTNT 4 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng sử dụng làm luận cứ xây dựng quy hoạch lưu vực sông và cơ chế giải quyết tranh chấp nước.
- Chủ đầu tư và đơn vị vận hành công trình: Các công ty thủy điện (Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk 3, 4, 4A), các công ty khai thác công trình thủy lợi trong việc lập kế hoạch điều tiết hồ chứa, bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế với an sinh xã hội của người dân địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa xung đột môi trường (XĐMT) như thế nào?
Luận án định nghĩa: XĐMT là một quá trình bất đồng thuận trong xã hội, leo thang từ mâu thuẫn, qua tranh chấp, lên xung đột, nảy sinh từ các quan hệ bất đồng trong sở hữu, khai thác, sử dụng và quản lý các dạng tài nguyên, các thành phần môi trường của những đối tượng liên quan. XĐMT diễn tiến qua 3 bậc thang liên tiếp: mâu thuẫn $\rightarrow$ tranh chấp $\rightarrow$ xung đột.
2. Tổng lượng dòng chảy và đặc điểm phân bố nguồn nước mặt LVS Srê Pốk tại Việt Nam là bao nhiêu?
Tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm của LVS Srê Pốk (phần Việt Nam) đạt 9,69 tỷ m³. Nguồn nước phân bố rất không đều: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10/11 chiếm trên 85% tổng lượng nước cả năm, trong khi mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 15–20%, dẫn đến tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng vào các tháng 3, 4.
3. Sự cố và mâu thuẫn điển hình giữa thủy điện và dân sinh được văn bản ghi nhận là gì?
Văn bản ghi nhận hai sự việc điển hình:
- Vụ Đông Xuân 2012–2013, Nhà máy Thủy điện Buôn Tua Srah tích nước không xả về hạ lưu làm các trạm bơm dọc sông Krông Nô (tỉnh Đắk Nông) cạn kiệt nguồn nước, buộc hàng trăm người dân xã Quảng Phú và Nâm N'dir phải đắp rọ đá ngăn sông lấy nước bơm tưới.
- Mùa mưa 2013, kênh dẫn dòng Thủy điện Srêpốk 4A bị vỡ do nước lũ tràn vào, gây ngập lụt tài sản và hoa màu của các xã ven kênh.
4. Yếu tố văn hóa bản địa Tây Nguyên được luận án kết hợp phân tích trong XĐMT ra sao?
Luận án chỉ ra rằng gần 50 dân tộc (trong đó người Êđê chiếm 15,65%, ngoài ra còn có Gia Rai, M'nông, Ba Na...) có đời sống văn hóa, tâm linh và sinh kế gắn chặt với bến nước, dòng sông và rừng đầu nguồn. Việc các dự án thủy điện làm cạn kiệt dòng sông cũ hoặc làm biến đổi bến nước truyền thống đã xâm phạm không gian văn hóa bản địa, đòi hỏi các giải pháp hòa giải phải tôn trọng luật tục, già làng, trưởng bản và cộng đồng dân tộc thiểu số.
5. Phương thức giải quyết XĐMT nào được tác giả ưu tiên lựa chọn?
Tác giả dựa trên mô hình kim tự tháp của Jan Teun Visscher và lý thuyết của E. Wertheim để khẳng định: cần ưu tiên tối đa các phương thức giải quyết hòa bình, đạt đồng thuận cao theo nguyên tắc cùng thắng (win-win) thông qua đàm phán (Negotiation) và hòa giải (Mediation); chỉ sử dụng biện pháp can thiệp pháp luật hoặc xét xử tòa án khi các biện pháp hòa giải cơ sở không đạt kết quả.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Thùy Dương là công trình nghiên cứu hệ thống về nhận diện, đánh giá và dự báo xung đột môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Srê Pốk. Tác giả đã kết hợp lý thuyết xã hội học môi trường, quản lý tổng hợp tài nguyên nước với các công cụ ma trận xung đột, mô hình DPSIR và tính toán cân bằng thủy văn để làm rõ nguyên nhân, tác động của các mâu thuẫn giữa thủy điện, nông nghiệp và cộng đồng bản địa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống giải pháp thực tiễn có giá trị phục vụ công tác quy hoạch lưu vực, vận hành liên hồ chứa và bảo vệ bền vững tài nguyên nước tại Tây Nguyên.